vanban.org

Bản án 145/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 19/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B (X) phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/10/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B (X) phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2024/HS-ST
Ngày 19-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thúy Vân.

2. Bà Phạm Thị Kim Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Thảo Vy là Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh

tham gia phiên tòa: Ông Trương Đức Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây

Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:

145/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra

xét xử số: 147/2024/QÐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B (X), sinh năm 1969, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi

thường trú: ấp M, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi tạm trú và nơi

cư trú hiện nay: Khu phố Y, Phường Z, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh;

nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính:

Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (chết) và bà

Nguyễn Thị K (chết); vợ là Trương Thị Thanh L (đã ly hôn) và 02 con; tiền án,

tiền sự: không có; bị bắt tạm giam từ ngày 02/10/2024 đến nay. (có mặt)

- Bị hại:

1. Bà Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1959; nơi cư trú: ấp H, xã B1, huyện H1,

tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú hiện nay: Khu phố Y, Phường V, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

2. Anh Ngô Minh H, sinh năm 1986; nơi cư trú: ấp C1, xã P, huyện T,

tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn B nhiều lần đến uống cà phê tại quán Cõi Riêng thuộc Khu

phố Y, Phường V, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, Bé phát hiện xe mô tô biển số 64B1-394.33 của chủ quán bà Nguyễn Ngọc A để tại bụi tre phía trước cổng quán không có người trông coi, chìa khóa để trên quầy pha chế nên đã nảy sinh ý định trộm xe của bà A. Khoảng 12 giờ ngày 25/9/2024, Bé nhìn thấy quầy pha chế không có người, Bé giả vờ đi vệ sinh và lén lút lấy trộm chìa khóa xe mô tô, sau đó lợi dụng không ai để ý đã mở khóa xe mô tô biển số 64B1-394.33 điều khiển bỏ đi, do sợ bị phát hiện Bé lấy biển số 70L6-8796 đã nhặt được từ trước đó thay vào xe mô tô mới trộm được.

Sáng ngày 28/9/2024, Bé đến xin làm mướn tại công trình đang sửa chữa,

cải tạo tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh, địa chỉ: Khu phố 1, Phường 3, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh nhưng không được. Công trình do anh Ngô Minh H là chỉ huy trưởng, Bé nhìn thấy tại công trình có nhiều khung sắt lắp trên tường rào đã tháo xuống để trên mặt đất nên đã nảy sinh ý định lấy trộm đem đi bán ve chai lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 03 giờ ngày 29/9/2024, Bé điều khiển xe mô tô biển số 64B1-394.33 đã thay biển số 70L6-8796 đến khu vực công trình đang thi công, Bé lén lút lấy trộm 01 khung sắt của hàng rào để lên xe, đang tìm chỗ bán thì bị Công an phát hiện bắt giữ.

Kết luận định giá số 83/KL-HĐĐGTS ngày 30/9/2024 của Hội đồng định

giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Tây Ninh kết luận:

- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Wave S, màu sơn đen - xám, biển số

64B1-394.33, số khung 26XDY-050129, số máy: C52E-1162599, đăng ký lần đầu vào ngày 19/02/2014, đã qua sử dụng có trị giá: 7.000.000 đồng;

- 01 (một) khung sắt lắp trên tường rào có trọng lượng 24,4 kg, đã qua sử

dụng có trị giá 190.320 đồng.

Tổng cộng: 7.190.320 đồng.

Bị cáo Nguyễn Văn B không có tài sản nên không kê biên.

Cáo trạng số: 142/CT-VKSTPTN ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Viện

kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn

Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh

Tây Ninh trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội

danh nêu trên đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật

Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 06 đến 09 tháng tù; không áp dụng

hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều

106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bà A đã nhận lại 01 (một) xe mô tô

hiệu Honda, loại Wave S, màu sơn đen - xám, biển số 64B1-394.33, số khung

26XDY-050129, số máy: C52E-1162599, đã qua sử dụng. Ghi nhận anh H đã

nhận lại 01 (một) khung sắt lắp trên tường rào có trọng lượng 24,4 kg, đã qua sử

dụng. Ghi nhận bà A, anh H không yêu cầu bị cáo bồi thường.

+ Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: một biển số xe 70L6-8796; một

quần jean dài màu xanh dương đậm; một áo sơmi ngắn tay màu xanh dương

nhạt; một túi xách màu đen có in hình ngôi sao đỏ; một đôi giày màu đen.

Bị cáo Nguyễn Văn B thống nhất với bản cáo trạng và luận tội của đại

diện Viện kiểm sát, không có ý kiến bào chữa cho mình.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Văn B: Xin xử giảm nhẹ cho bị cáo

để sớm quay về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành

phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố

Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực

hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, anh H là bị hại vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng

mặt, bà A là bị hại vắng mặt, không có lý do; căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

Về tội danh: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà, bị cáo đã

khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án chứng minh được: do không có phương tiện đi lại và thiếu tiền tiêu xài cá nhân, ngày 25/9/2024, tại Khu phố Y, Phường V, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Văn B đã lén lút lấy trộm 01 xe mô tô biển số 64B1-394.33 của bà Nguyễn Ngọc A có trị giá 7.000.000 đồng; ngày 29/9/2024, tại Khu phố Y, Phường V, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Văn B đã lén lX lấy trộm 01 khung sắt lắp trên tường rào có trọng lượng 24,4 kg, có trị giá 190.320 đồng tại công trình đang sửa chữa, cải tạo tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh do anh Ngô Minh H làm quản lý. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo về tội phạm nêu trên là có căn cứ.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là

nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nên phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: bị cáo không

có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: bị cáo phạm

tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội

nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi

xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, nhằm

đạt được mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, không có khả

năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung

đối với bị cáo.

Vì vậy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố

Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đề nghị là có căn cứ để xem xét.

Biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều

106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Về bồi thường thiệt hại:

Bà Nguyễn Ngọc A đã nhận lại 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại

Wave S, màu sơn đen - xám, biển số 64B1-394.33, số khung 26XDY-050129,

số máy: C52E-1162599, đã qua sử dụng nên ghi nhận.

Anh Ngô Minh H đã nhận lại 01 (một) khung sắt lắp trên tường

rào có trọng lượng 24,4 kg, đã qua sử dụng nên ghi nhận.

Bà A, anh H không yêu cầu bị cáo bồi thường nên ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Đối với một biển số xe 70L6-8796; một quần

jean dài màu xanh dương đậm; một áo sơmi ngắn tay màu xanh dương nhạt; một

túi xách màu đen có in hình ngôi sao đỏ; một đôi giày màu đen của bị cáo:

không là vật chứng vụ án, bị cáo không yêu cầu nhận lại do không còn giá trị sử

dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí

Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí

hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B (X) phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật

Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành

hình phạt tù tính từ ngày 02/10/2024.

2. Biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều

106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

2.1 Về bồi thường thiệt hại:

Ghi nhận bà Nguyễn Ngọc A đã nhận lại 01 (một) xe mô tô hiệu Honda,

loại Wave S, màu sơn đen - xám, biển số 64B1-394.33, số khung 26XDY-050129, số máy: C52E-1162599, đã qua sử dụng.

Ghi nhận anh Ngô Minh H đã nhận lại 01 (một) khung sắt lắp trên tường

rào có trọng lượng 24,4 kg, đã qua sử dụng.

Ghi nhận bà Nguyễn Ngọc A, anh Ngô Minh H không yêu cầu bị cáo bồi

thường.

2.2 Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: một biển số xe 70L6-8796; một quần jean dài màu

xanh dương đậm; một áo sơmi ngắn tay màu xanh dương nhạt; một túi xách màu đen có in hình ngôi sao đỏ; một đôi giày màu đen.

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự

thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/11/2024).

3. Án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí

hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên

án. Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành

án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật

Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ