vanban.org

Bản án 145/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 31/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạ tội “Trộ cắp tài sản”.

Về h nh phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 13/4/2023. Về trách nhiệ d n sự: Không đặt ra xe xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạ tội “Trộ cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố t ng h nh sự; Điều 260 Bộ luật Tố t ng h nh sự; Điều 333 Bộ luật Tố t ng h nh sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2023/HS-ST
Ngày: 31-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N D N THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sinh.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Thượng Văn Kịnh;

- Bà Trương Thị Thu Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tr n Thị C Thơ - Thư T a án nh n d n thành phố Th D u Một, t nh B nh Dương.

- Đ i di n Vi n i m sát nh n d n thành ph Th Dầu Một t nh B nh Dương tham gia phiên tòa: Ông Tr n Thanh Thảo - Kiể sát viên.

Ngày 31 tháng 8 nă 2023, tại tr s T a án nh n d n thành phố Th D u Một, t nh B nh Dương xét xử sơ th công hai v án h nh sự th l số 165/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 8 nă 2023; theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 153/2023/QĐXXST-HS 17 tháng 8 nă 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hoàng L, sinh nă 1985; tại Hậu Giang; nơi đăng

hộ h u thường trú: Khu vực 1, phường T, thị xã L, t nh Hậu Giang; nơi : Khu nhà trọ, địa ch số 05, đường Thích Q, hu phố 2, phường P, thành phố T, t nh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; tr nh độ học vấn: 06/12; giới tính: Na ; d n tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Na ; con ông Đà Văn An và bà Nguyễn Thị N; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị S và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 31/12/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, t nh An Giang xử phạt 07 nă 06 tháng tù về tội Cướp tài sản, theo Bản án hình sự sơ th m số 20/HSST;

- Ngày 06/11/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, t nh B nh Dương xử phạt 02 nă tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án hình sự sơ th m số 180/2018/HSST;

Bị bắt tạ giữ, tạ gia từ ngày 13/4/2023 cho đến nay; có ặt.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Ngọc Tr, sinh nă 2004; địa ch : Ấp 1, xã P, huyện P, t nh B nh Dương; vắng ặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê C, sinh nă 1964; địa ch : Số 2, đường P, khu phố 5, phường Phú H, thành phố T, t nh B nh Dương; vắng ặt.

NỘI DUNG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên t a, nội dung v án được tó tắt như sau:

Nguyễn Hoàng L cùng chị Tr n Thị H sinh sống tại ph ng trọ số 13 thuộc Khu nhà trọ địa ch tại số 05, đường Thích Quảng Đức, hu phố 2, phường Phú H a, thành phố Th D u Một, t nh B nh Dương; c n chị Nguyễn Thị Ngọc Tr và chị Đỗ Ngọc Cát T sinh sống tại ph ng trọ số 07 (thuộc hu nhà trọ trên).

Khoảng 05 giờ 40 phút ngày 12/4/2023, L điều hiển xe ô tô ch chị Hà đến Khu D n cư Hiệp Thành 2, phường Hiệp Thành, thành phố Th D u Một, t nh B nh Dương để đi là . Đến hoảng 06 giờ cùng ngày 12/4/2023, L chạy xe ô tô tr về hu nhà trọ và hi chạy ngang qua phòng trọ số 07 c a chị Tr th nh n thấy cửa ph ng trọ ch hép hờ nên L nảy sinh định vào ph ng trọ c a chị Tr để t

iếm tài sản lấy trộ . Thực hiện định trên, L điều hiển xe ô tô chạy về cất tại ph ng trọ số 13 c a L rồi đi bộ đến ph ng trọ số 07 c a chị Tr th nh n thấy chị Tr đang nằ ng , đồng thời bên cạnh chỗ chị Tr nằ có 01 điện thoại di động đang cắ sạc pin cách cửa ph ng trọ hoảng 1,5 ét; lúc này, do sợ bị phát hiện nên L bỏ đi về ph ng trọ c a L. Đến hoảng 06 giờ 15 phút cùng ngày 12/4/2023, L tiếp t c tr lại ph ng trọ số 07 thì nh n thấy chị Tr vẫn đang c n nằ ng nên L lén lút

cửa ph ng trọ đi vào trong lấy trộ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74, àu xanh, gắn ốp lưng nhựa àu trắng c a chị Tr rồi đi về ph ng trọ c a L. Do điện thoại di động c a chị Tr có cài ật h u àn h nh nên L hông

được nhưng sau nhiều l n đăng nhập ngẫu nhiên thì L

được ật h u rồi xóa hết các dữ liệu bên trong điện thoại di động c a chị Tr. Sau đó, L ang điện thoại di động lấy trộ được c a chị Tr đến tiệ C đồ Toàn Ch u, địa ch tại số 262A, đường Phú Lợi, hu phố 5, phường Phú H a, thành phố Th D u Một, t nh B nh Dương do ông Lê C là người đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng hộ inh doanh c cố được số tiền 1.500.000 đồng.

Đối với chị Nguyễn Thị Ngọc Tr: Đến hoảng 10 giờ ngày 12/4/2023, chị Tr thức dậy th phát hiện điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74, àu xanh đã bị ất trộ nên đã đến Công an phường Phú H a để tr nh báo sự việc. Qua thu thập dữ liệu ca era tại khu nhà trọ th phát hiện vào hoảng 06 giờ 30 phút ngày 12/4/2023 có người đàn ông có đặc điể giống với Nguyễn Hoàng L đã lén lút đột nhập vào ph ng trọ c a chị Tr rồi đi ra ngoài.

Đối với Nguyễn Hoàng L: Sau hi biết được chị Nguyễn Thị Ngọc Tr đã đến Công an phường Phú H a để tr nh báo sự việc nên ngày 13/4/2023 L đã đến Công an phường Phú H a để xin đ u thú và hai nhận toàn bộ hành vi phạ tội như đã nêu trên. Sau đó, Công an phường Phú H a đã tiến hành iể tra hành chính tiệ C đồ Toàn Ch u th phát hiện và thu giữ điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74, àu xanh, gắn ốp lưng nhựa màu trắng mà L đã lấy trộ c a chị Tr.

Cùng ngày 13/4/2023, Công an phường Phú H a đã chuyển hồ sơ v việc, các vật chứng đã thu giữ và đối tượng Nguyễn Hoàng L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Th D u Một để giải quyết theo th quyền.

Căn cứ Bản ết luận định giá tài sản số 129/KL-HĐĐGTS ngày 20/4/2023 c a Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố t ng h nh sự thành phố Th D u Một, ết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74, àu xanh trị giá là 2.800.000 đồng và 01 ốp lưng nhựa àu trắng, trị giá 20.000 đồng. Như vậy, tổng trị giá tài sản à Nguyễn Hoàng L đã chiế đoạt c a chị Nguyễn Thị Ngọc Tr là 2.820.000 đồng.

Ngày 22/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Th D u Một đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74, àu xanh gắn ốp lưng nhựa àu trắng cho chị Nguyễn Thị Ngọc Tr theo Quyết định xử l vật chứng số 59/QĐ-ĐTTH cùng ngày 22/4/2023. Hiện, chị Tr hông có yêu c u g hác đối với Nguyễn Hoàng L.

Đối với ông Lê C: Do quá tr nh điều tra ông C hai nhận hông biết điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74, àu xanh, gắn ốp lưng nhựa àu trắng là do Nguyễn Hoàng L lấy trộ c a chị Tr ang đến tiệ C đồ Toàn Ch u để c cố nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Th D u Một không đề cập xử l đối với ông C. Ngoài ra, ông C không có yêu c u g hác đối với L.

Cáo trạng số 148/CT-VKSTDM ngày 07/8/2023 c a Viện Kiể sát nh n d n thành phố Th D u Một, t nh B nh Dương truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng L về tội Trộ cắp tài sản theo hoản 1 Điều 173 Bộ luật H nh sự. Tại phiên t a, đại diện Viện Kiể sát nh n d n thành phố Th D u Một giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về h nh phạt: Áp d ng hoản 1 Điều 173; điể s hoản 1, hoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật H nh sự, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 nă tù.

- Về trách nhiệ d n sự: Không đặt ra xe xét giải quyết.

- Về vật chứng: Không có.

Tại phiên t a, bị cáo đã hai nhận hành vi phạ tội c a nh và không có iến tranh luận; trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xe xét giả nhẹ h nh phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố t ng c a Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện iể sát nh n d n thành phố Th D u Một, Kiể sát viên trong quá tr nh h i tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th quyền, tr nh tự, th t c tố t ng theo quy định c a Bộ luật tố t ng H nh sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên t a, bị cáo, bị hại hông có iến hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định c a cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, quyết định, hành vi tố t ng c a cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên t a, bị cáo đã hai nhận toàn bộ hành vi phạ tội c a nh. Lời hai c a bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án, phù hợp lời hai c a bị hại, nội dung bản cáo trạng và diễn biến tại phiên t a. Vì vậy, đ cơ s ết luận: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 12/4/2023, tại phòng trọ số 7, thuộc Khu nhà trọ địa ch số 05, đường Thích Quảng Đức, hu phố 2, phường Phú H a, thành phố Th D u Một, t nh B nh Dương, bị cáo Nguyễn Hoàng L đã có hành vi lén lút chiế đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74, màu xanh, trị giá 2.800.000 đồng, gắn ốp lưng nhựa màu trắng, trị giá 20.000 đồng, với tổng trị giá là 2.820.000 đồng c a chị Nguyễn Thị Ngọc Tr. Nên hành vi mà bị cáo thực hiện đ yếu tố cấu thành tội “Trộ cắp tài sản” theo hoản 1 Điều 173 Bộ luật H nh sự. Bị cáo có đ năng lực chịu trách nhiệ h nh sự. Do vậy, Cáo trạng c a Viện iể sát nh n d n thành phố Th D u Một, t nh B nh Dương truy tố bị cáo với tội danh và điều hoản như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Hành vi c a bị cáo là nguy hiể cho xã hội, hông những x phạ

đến quyền s hữu hợp pháp về tài sản c a công d n được pháp luật bảo vệ à c n g y ất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra v án. Bị cáo nhận thức được hành vi chiế đoạt tài sản c a người hác là vi phạ pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạ tội với lỗi cố , thể hiện thức xe thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Ngoài ra, bị cáo c n có nh n th n xấu, từng bị Toà án xét xử về tội Cướp tài sản và tội Trộm cắp tài sản. V vậy, c n xử bị cáo ức h nh phạt nghiê , tương xứng với tính chất, ức độ c a hành vi phạ tội à bị cáo đã thực hiện; cách ly bị cáo ra hỏi xã hội ột thời gian để có tác d ng giáo d c bị cáo tr thành công d n tốt, đồng thời nhằ răn đe và ph ng ngừa chung trong xã hội.

[4] T nh tiết tăng nặng trách nhiệ h nh sự: Không có.

[5] T nh tiết giả nhẹ trách nhiệ h nh sự: Bị cáo thành h n hai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại. Đ y là các t nh tiết giả nhẹ được quy định tại điể s hoản 1 và hoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh sự.

[6] Căn cứ vào tính chất, ức độ nguy hiể cho xã hội c a hành vi phạ tội, nh n th n, t nh tiết giả nhẹ trách nhiệ h nh sự đối với bị cáo, xét thấy ức h nh phạt à đại diện Viện Kiể sát đề nghị áp d ng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về trách nhiệ d n sự: Không đặt ra xe xét giải quyết.

[8] Về vật chứng: Không có.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

V các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào hoản 1 Điều 173; Điều 38; điể s hoản 1, hoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh sự; Khoản 2 Điều 136, Điều 260 và Điều 333 Bộ luật Tố t ng h nh sự. Điể a hoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a UBTVQH quy định về ức thu, iễn, giả , thu, nộp, quản l và sử d ng án phí và lệ phí T a án:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạ tội “Trộ cắp tài sản”.

1. Về h nh phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 13/4/2023.

2. Về trách nhiệ d n sự: Không đặt ra xe xét, giải quyết.

3. Về vật chứng: Không có.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng L phải chịu 200.000 đồng án phí h nh sự sơ th .

5. Bị cáo có ặt tại phiên t a được quyền háng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án vắng ặt được quyền háng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niê yết theo quy định c a pháp luật.

Cỡ chữ