vanban.org

Bản án 145/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 29/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/. Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn K, phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 2/. Xử phạt: bị cáo Phạm Văn K 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 23/10/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Kh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2023/HS-ST
Ngày: 14 - 12 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hướng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 138/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Văn K, sinh ngày 11 tháng 12 năm 1979 tại Sóc Trăng; Đăng ký thường trú: ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: làm ruộng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Phạm Văn D và bà Trịnh Thị T; có vợ nhưng đã ly hôn và 02 người con; Tiền án: không; tiền sự: 01 lần, vào ngày 08/9/2023 bị Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã đóng phạt (về nhân thân: vào ngày 04/02/2013 bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ xử phạt 02 năm 06 tháng tù, chấp hành xong ngày 16/12/2014 đã được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/10/2023 và chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Ông Triệu Đ, sinh năm 1969. Địa chỉ: số C đường T, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

- Người làm chứng: Ông Lý Thành P, sinh năm 1979. Địa chỉ: số C đường T, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 22 tháng 10 năm 2023, Phạm Văn K điều khiển xe đạp đi từ chợ trung tâm thành phố S theo đường T về hướng ngã ba T, thành phố S nhằm tìm tài sản của người khác để lấy trộm. Khi đến khu vực trước nhà số C, đường T, khóm T, Phường A, thành phố S, K phát hiện xe ô tô tải biển số 94C-035.25 của ông Triệu Đ đang đậu trước cửa nhà, xe không có người trông coi nên K nảy sinh ý định tháo lấy bình ắc quy của xe ô tô này mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Với ý định đó, K quay xe lại đi lên hè phố đậu gần chiếc xe ô tô, K chui xuống gầm xe dùng hai cây chìa khóa số 10 và 13 tháo gở lấy hai bình Ắc quy xuống. Sau đó, K để hai bình ắc quy lên yên sau xe đạp rồi điều khiển xe chạy về hướng ngã ba T thì bị ông Lý Thành P, số A, đường T, khóm A, phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng phát hiện và kêu K quay lại chỗ lấy trộm tài sản; ông P gọi cho ông Đ và ông Đ trình báo Cơ quan Công an. Sau đó, Công an phường A, thành phố S đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với K về hành vi trộm cắp tài sản. Quá trình vận chuyển, hai bình ắc quy bị vỡ do K làm rơi xuống mặt đường. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 160/KL-HĐĐG ngày 24 tháng 10 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: Một bình ắc quy PINACO dongmai, 12V-70AH, made in VietNam, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 80%, có giá 1.240.000 đồng và một bình ắc quy PINACO dongnai, 12V-85AH, made in VietNam, đã qua sử dụng, tỷ lệ sử dụng còn lại 80%, có giá 1.358.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị can K lấy trộm của bị hại là 2.598.000 đồng.

Về vật chúng: Cơ quan cảnh sát điều tra tạm giữ một bình ắc dongmai, 12V-70AH, made in VietNam, đã qua sử dụng; một bình ắc quy quy PINACO PINACO dongnai, 12V-85AH, made in VietNam, đã qua sử dụng và một chiếc xe đạp màu trắng, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã làm rõ và giao trả cho bị hại Triệu Đạt một bình ắc quy PINACO dongmai, 12V-70AH, made in VietNam và một bình ắc quy PINACO dongnai, 12V- 85AH, made in VietNam.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Triệu Đ đã nhận lại được tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 139/QĐ-VKS-TPST ngày 14/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố đối với bị cáo Phạm Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng: vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo Quyết định số 139/QĐ-VKS-TPST ngày 14/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng và đề nghị Tòa án:

Về tội danh: tuyên bố bị cáo Phạm Văn K phạm tội “trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: khoản 1 Điều 173, điểm s, h khoản 1 Điều 51 (bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại về tài sản không lớn); Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị bị cáo K từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu nộp ngân sách nhà nước một chiếc xe đạp màu trắng đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: đề nghị buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

- Bị cáo Phạm Văn K: thống nhất với nội dung cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận, bào chữa đối đáp với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và bị cáo nói lời nói sau cùng là xin Tòa án giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại ông Triệu Đ, người làm chứng ông Lý Thành P được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và việc vắng mặt những người nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung là phù hợp với quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Phạm Văn K là công dân Việt Nam, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, vào thời điểm thực hiện hành vi bị khởi tố, không mắc bệnh tâm thần hay một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình nên có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phạm Văn K thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố bị cáo là đúng với hành vi của bị cáo, cụ thể: Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 22 tháng 10 năm 2023, bị cáo điều khiển xe đạp đi từ chợ trung tâm thành phố S theo đường T về hướng ngã ba T, thành phố S nhằm tìm tài sản của người khác để lấy trộm. Khi đến khu vực trước nhà số C, đường T, khóm T, Phường A, thành phố S, K phát hiện xe ô tô tải đang đậu trước cửa nhà, xe không có người trông coi nên bị cáo nảy sinh ý định tháo lấy bình ắc quy của xe ô tô này mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo chui xuống gầm xe dùng hai cây chìa khóa số 10 và 13 tháo gở lấy hai bình Ắc quy xuống, bị cáo để hai bình ắc quy lên yên sau xe đạp rồi điều khiển xe chạy về hướng ngã ba T thì bị ông Lý Thành P phát hiện và kêu K quay lại chỗ lấy trộm tài sản; ông P gọi cho ông Đ và ông Đ trình báo Cơ quan Công an. Bị cáo đã biết sai và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Tòa án có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 22 tháng 10 năm 2023, bị cáo lén lút lấy trộm hai bình ắc quy của xe ô tô tải biển số 94C-035.25, có giá trị 2.598.000 đồng của ông Triệu Đ đang đậu trước nhà số C đường T, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã lén lút lấy trộm tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nên đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu giữ kịp thời và giao trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại về tài sản không lớn nên được xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: xét thấy, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, đồng thời còn xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, an toàn công cộng, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trị an tại địa phương, bị cáo là người có nhân thân xấu nên cần áp dụng hình phạt tù với một thời gian nhất định đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tạm giữ một chiếc xe đạp màu trắng đã qua sử dụng. Đây là tài sản của bị cáo dùng vào việc phạm tội và còn giá trị sử dụng nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: bị hại Triệu Đạt không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Tòa án không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội, mức hình phạt và các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/. Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn K, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2/. Xử phạt: bị cáo Phạm Văn K 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 23/10/2023.

3/. Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: một chiếc xe đạp màu trắng đã qua sử dụng (Vật chứng nêu trên đang được quản lý tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng).

4/. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: bị hại Triệu Đạt không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Tòa án không đặt ra xem xét.

5/. Về án phí: buộc bị cáo Phạm Văn K phải nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6/. Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ