- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Van Ha phạm tội cố ý gây thương tích đối với Truong Thien Ron - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R G TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 145/2023/HS-ST Ngày: 28.7.2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R G, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Bùi Tấn Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Sơn.
2. Bà Trần Lệ Nga.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R G, tỉnh Kiên Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 132/2023/TLST-HS, ngày 16 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh ngày 14/8/1988; Nơi sinh: huyện Y S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ĐKHKTT: Thôn 13, xã M B, huyện Y S, tỉnh Tuyên Quang; Chỗ ở: D5-34, đường S, phường V L, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B và bà Đỗ Thị B1; Có vợ: Đinh Ngọc N, sinh năm 1986; Con: 01 người, sinh năm 2010; Anh, chị, em ruột: 03 người, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17/7/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Y S, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Đến ngày 09/02/2018 chấp hành xong hình phạt, đã xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2022 cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Người bị hại: Trương Thiện R, sinh năm 1980 (đã chết); Địa chỉ: Số 333, đường N C T, phường R S, TP. R G, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Trương Thiện R: Ông Trương Thiện Ph và bà Võ Thúy Ng; Cùng địa chỉ: Số 333, đường N C T, phường R S, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang. (Cha mẹ của Trương Thiện R). (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đinh Ngọc N, sinh năm 1986; Địa chỉ: D5-34, đường S, phường V L, TP. R G, tỉnh Kiên Giang.
* Người làm chứng:
+ Nguyễn Phước X, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số 390/4 N Q, phường V L, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.
+ Nguyễn Bích Q, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số 390/4 N Q, phường V L, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.
(Có mặt tại phiên tòa)
+ Nguyễn Trí H, sinh năm 1997. Địa chỉ: 574/9 N T T, phường V L, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.
+ Đặng Thị Hồng N1, sinh năm 2001; Địa chỉ: Số 136, đường N B, phường V L, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.
+ Phan Trạng N2, sinh năm 2001; Địa chỉ: Số 65, đường T C C, phường V T V, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 04 giờ, ngày 01/12/2022, Nguyễn Văn H đang ngồi nhậu và xem bóng đá cùng với vợ chồng anh Nguyễn Phước X, chị Nguyễn Bích Q tại quán cháo lòng Hà Nội, tại Lô D5 Căn 34, đường S, phường V L, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang do H làm chủ thì có anh Trương Thiện R trong tình trạng say rượu, điều khiển xe máy nhãn hiệu FERROLI, màu xanh-đen, biển số: 68HY-0124 đậu phía bên kia đường đối diện quán của H rồi đi bộ vào quán xin 20.000 đồng để đổ xăng. Lúc này, chị Q nói với anh R là không có tiền và lấy ra 1.000 đồng (một nghìn đồng) đưa cho anh R nhưng anh R không lấy mà bỏ đi qua chỗ xe máy đang đậu lấy mũ bảo hiểm của mình đập nhiều cái xuống đường làm bể mũ bảo hiểm, lên xe nổ máy hụ ga nhiều lần rồi chạy đi. Khoảng 10 phút sau, anh R tiếp tục chạy xe đến đậu trước quán của H, đi vào quán đòi mũ bảo hiểm thì H nói “cái nón ông đập bể bên đường sang mà lấy, lại đây quậy hả gì” thì anh R đi ra điều khiển xe đi về hướng R S. Khi đó, H đi ra xem thì thấy anh R đậu xe đối diện quán nhậu 199, đường S, phường V L và đi bộ sang quán 199. Thấy vậy, H kêu X lấy xe chở H đi đến quán 199 để xem anh R làm gì, nhưng mục đích H đến đó là để đánh anh R dằn mặt không cho anh R đến quán H quậy phá nữa. Anh X không biết mục đích của H nên điều khiển xe mô tô biển số: 68T5-6964 của Anh X chở H đến quán 199. Khi đến quán lúc này là vào khoảng 04 giờ 15 phút cùng ngày, H thấy anh R từ trong quán đi ra, H liền xuống xe đi đến chỗ anh R dùng tay đánh 01 đến 02 cái trúng vào người anh R. Bị đánh anh R bỏ chạy về hướng Gara ô tô Tuấn Tài AUTO (Gara Tuấn Tài), số 66-67, đường S, phường V L, thành phố R G. Khi anh R chạy đến trước Gara Tuấn Tài thì H đuổi kịp dùng tay trái nắm cổ áo kéo anh R đứng lại đồng thời dùng tay phải đánh vào mặt anh R một cái làm R té ngã xuống vĩa hè (cạnh bồn cây), H tiếp tục xông đến dùng tay đấm liên tiếp nhiều cái vào vùng mặt của Rọn (không nhớ rõ bao nhiêu cái). Lúc này, Anh X, anh Nguyễn Trí H, anh Phan Trạng N2 can ngăn, ôm H lại thì H không đánh nữa mà chạy đến chỗ xe máy của anh R dùng chân đạp ngã xe Rọn rồi tiếp tục đi đến chỗ Rọn đang nằm khom người dùng tay sờ vào người R thì được mọi người tiếp tục can ngăn nên H lên xe cho Anh X chở về. R được mọi người đưa đi đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang cấp cứu nhưng tử vong sau đó. Ngày 07/12/2022, Nguyễn Văn H bị khởi tố, tạm giam để phục vụ điều tra.
Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống mà Nguyễn Văn H gây thương tích cho bị hại dẫn đến tử vong. Do đó, hành vi của bị cáo là mang tính chất côn đồ. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đã tự nguyện bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của gia đình bị hại, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1177, ngày 26/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận đối với Trương Thiện R:
1. Các kết quả chính
- Sây sát da và bầm tụ máu má phải.
- Dập rách da và bầm tụ máu mặt trong môi trên bên trái.
- Bầm tụ máu mặt trong môi dưới bên trái.
- Tụ máu dưới da đầu vùng trán bên phải.
- Tụ máu dưới màng nhện bán cầu đại não hai bên vùng trán - thái dương.
- Tụ máu tiểu não và thân não.
- Tụ máu trong não thất hai bán cầu.
- Bản kết luận giám định pháp y về mô bệnh học gồm các tổn thương:
+ Chảy máu dưới nhện.
+ Chảy máu quanh cầu não.
+ Phù phổi cấp.
+ Gan thoái hóa mỡ.
- Bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp: Không phát hiện các chất độc thường gặp kể trong bản kết luận giám định.
2. Nguyên nhân chết: Do chấn thương sọ não.
3. Cơ chế hình thành thương tích:
Các thương tích: Sây sát da và bầm tụ máu má trái; Dập rách da và bầm tụ máu mặt trong môi trên bên trái; Bầm tụ máu mặt trong môi dưới bên trái trên người nạn nhân Trương Thiện R do vật tày tác động là nguyên nhân gây ra chấn thương sọ não dẫn đến nạn nhân tử vong.
* Vật chứng trong vụ án:
+ Các sợi lông tóc màu đen.
+ 01 mũ bảo hiểm màu đen, đã qua sử dụng, (bút lục số 39).
+ 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda, màu sơn: đen-bạc, số máy C09E-6002238; số khung: 09056Y002270, biển số: 68T5-6964, (bút lục số: 127)
+ 02 (hai) đoạn dữ liệu được trích xuất từ Camera an ninh tại hiện trường chứa trong một đĩa DVD đã đưa vào hồ sơ vụ án, (bút lục số: 129-130).
Tại bản Cáo trạng số: 152/CT-VKSRG, ngày 15 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm d khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 06 đến 07 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:
Tịch thu, tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng, gồm: 01 (một) túi nilon trắng, trong suốt, được buộc một đầu bằng sợi thun màu vàng, bên trong có nhiều sợi lông tóc màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu đen, đã qua sử dụng. Theo Quyết định chuyển vật chứng số 112/QĐ-VKSRG, ngày 15 tháng 6 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố R G.
+ Đối với xe mô tô biển số: 68T5-6964, xét thấy không liên quan đến vụ án Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Phước X theo Quyết định xử lý lý vật chứng số 37a, ngày 27/4/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R G, đề nghị HĐXX miễn xét.
+ Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn H đã bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của đại diện người bị hại là ông Trương Thiện Ph với số tiền là 40.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo và đại diện người bị hại thống nhất thỏa thuận, bị cáo sẽ bồi thường thêm cho gia đình người bị hại số tiền 40.000.000 đồng, đề nghị HĐXX ghi nhận.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Văn H thống nhất với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G đã truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thương tích. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của gia đình người bị hại số tiền là 40.00.000 đồng và đồng ý tiếp tục bồi thường thêm cho gia đình người bị hại số tiền 40.000.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
- Ông Trương Thiện Ph và bà Võ Thúy Ng là người đại diện cho người bị hại Trương Thiện R xác nhận, vợ của bị cáo là bà Đinh Ngọc N đã đại diện bị cáo bồi thường số tiền là 40.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện bồi thường thêm số tiền 40.000.000 đồng, ông Ph, bà Nga đồng ý nhận và không có yêu cầu gì khác. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Ngọc N thống nhất theo nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G và nội dung trình bày của bị cáo tại phiên tòa. Về phần trách nhiệm dân sự, Bà N đã đại diện cho bị cáo bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 40.000.000 đồng. Số tiền trên được xác định là tiền của bị cáo H bồi thường cho người bị hại. Bà N chỉ là người đại diện đứng ra giao tiền. Vì vậy, đối với số tiền nêu trên Bà N không có yêu cầu và không có ý kiến gì. Ngoài ra, đề nghị HĐXX ghi nhận việc bị cáo sẽ bồi thường thêm cho gia đình người bị hại số tiền 40.000.000 đồng và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
Tại phần nói lời sau cùng bị cáo Nguyễn Văn H trình bày: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố R G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ và tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa qua kết quả thẩm vấn, lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; kết luận giám định của các cơ quan có thẩm quyền, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ thể hiện:
Do bực tức việc Trương Thiện R đến quán mình quậy phá và xin tiền. Vào khoảng 04 giờ 15 phút, ngày 01/12/2022 tại trước Gara ô tô Tuấn Tài AUTO, số 66-67, đường S, phường V L, thành phố R G Nguyễn Văn H đã dùng tay đánh anh R té ngã xuống lề đường rồi tiếp tục xông đến dùng tay đánh nhiều cái vào vùng mặt Trương Thiện R gây thương tích; anh R được mọi người đưa đi đến bệnh viện cấp cứu nhưng tử vong sau đó. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1177, ngày 26/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận đối với Trương Thiện R: Về Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích, Sây sát da và bầm tụ máu má trái; Dập rách da và bầm tụ máu mặt trong môi trên bên trái; Bầm tụ máu mặt trong môi dưới bên trái trên người nạn nhân Trương Thiện R do vật tày tác động là nguyên nhân gây ra chấn thương sọ não dẫn đến nạn nhân tử vong. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự, như kết luận của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù bị cáo không mong muốn người bị hại chết, nhưng chỉ từ mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã cố ý thực hiện bằng được hành vi gây thương tích dẫn đến người bị hại tử vong; đáng lẽ với những mâu thuẫn trong cuộc sống đời thường, nếu bị cáo biết kiềm chế bản thân và lựa chọn cách cư xử phù hợp thì hậu quả đáng tiếc đã không xảy ra và không gây ra cái chết của người bị hại Trương Thiện R. Hành vi của bị cáo thể hiện bản tính hung hăng, côn đồ, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác và xem thường pháp luật; bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người bị hại, dẫn đến người bị hại Trương Thiện R chết. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt sau này, sống có ích cho xã hội và làm gương cho người khác có ý định phạm tội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Chỉ với mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống mà bị cáo đã sử dụng vũ lực xâm phạm đến tính mạng người bị hại. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “Phạm tội có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của người bị hại để khắc phục hậu quả do bị cáo gây ra là các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, đại diện người bị hại có yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo có tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Về nhân thân, bị cáo là người có nhân thân xấu.
Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Xét thấy, bị cáo H có 01 tình tiết tăng nặng; có 02 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 và có tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong thời gian mới đảm bảo mục đích trừng trị, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt sau này, sống có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Hội đồng xét xử xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố R G về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về các vấn đề khác:
- Về vật chứng và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng, gồm: 01 (một) túi nilon trắng, trong suốt, được buộc một đầu bằng sợi thun màu vàng, bên trong có nhiều sợi lông tóc màu đen và 01 mũ bảo hiểm màu đen, đã qua sử dụng. Theo Quyết định chuyển vật chứng số 112/QĐ-VKSRG, ngày 15 tháng 6 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố R G.
Đối với xe mô tô biển số: 68T5-6964, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Phước X do không liên quan đến vụ án, theo Quyết định xử lý lý vật chứng số 37a, ngày 27/4/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R G theo đúng quy định của pháp luật nên HĐXX miễn xét.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Nguyễn Văn H và đại diện người bị hại ông Trương Thiện Ph, bà Võ Thúy Ng: bị cáo H tiếp tục bồi thường cho đại diện người bị hại là ông Ph, bà Nga số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng), sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Án phí hình sự và dân sự sơ thẩm:
+ Án phí hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
+ Án phí dân sự sơ thẩm: Do giữa bị cáo và đại diện người bị hại thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại và đề nghị Tòa án ghi nhận việc nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 134; điểm d khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H mức án 05 (năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 01/12/2022.
3. Về vật chứng và xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng, gồm: 01 (một) túi nilon trắng, trong suốt, được buộc một đầu bằng sợi thun màu vàng, bên trong có nhiều sợi lông tóc màu đen và 01 mũ bảo hiểm màu đen, đã qua sử dụng. Theo Quyết định chuyển vật chứng số 112/QĐ-VKSRG, ngày 15 tháng 6 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố R G.
4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 30 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 357, 584, 591 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Nguyễn Văn H và đại diện người bị hại ông Trương Thiện Ph, bà Võ Thúy Ng: bị cáo H tiếp tục bồi thường cho đại diện người bị hại là ông Ph, bà Nga số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng), sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
5. Án phí hình sự và dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 6, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
+ Án phí hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
+ Án phí dân sự sơ thẩm: Do giữa bị cáo và đại diện người bị hại thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại và đề nghị Tòa án ghi nhận việc bồi thường thiệt hại, nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo; đại diện người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND TP. R G; - Cơ quan THA Dân sự TP. R G; - Công an TP. R G; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Tấn Nghĩa |