- Tranh chấp gì? án hình sự — "HSPT - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i ị cáo Đoàn Thị Hồng H
- Căn cứ chính? Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 145/2023/HS-PT Ngày: 12/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Năng
Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Thương Huyền Ông Trần Khắc Hoàng.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Tống Khánh Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 93 /2023/TLPT-HS ngày 29/6/2023 đối v i ị cáo Nguyễn Thị N, Đoàn Thị Hồng H, do có kháng cáo của các ị cáo đối v i Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2023/HSST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Thị N; sinh ngày 12 tháng 3 năm 1958; tại T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng G và bà Nang N1 (đều đã chết); chồng: Đoàn Trọng C; con 03 đứa, l n nhất sinh năm: 1978, nhỏ nhất sinh năm: 1995; anh chị em ruột có 06 người, ị cáo là con thứ 06; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo ị áp dụng iện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
2. Họ và tên: Đoàn Thị Hồng H; sinh ngày 02 tháng 6 năm 1995; tại huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ĐKHKTT: 140/7 H, phường E, quận G, thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: Tổ dân phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Trọng C và bà Nguyễn Thị N; chồng: Tăng Khánh H1; con: 01 đứa sinh năm 2022; anh chị em ruột có 03 người, ị cáo là con thứ 03; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo ị áp dụng iện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Vắng mặt.
Những người khác không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bằng các iện pháp nghiệp vụ, hồi 09 giờ ngày 28/10/2022 Công an huyện H nhận được thông tin Nguyễn Thị N đang có hành vi “Tàng trữ hàng cấm” nên tiến hành làm việc để vận động Nú giao nộp pháo. Quá trình làm việc, Nguyễn Thị N đã tự nguyện giao nộp 01 thùng cattong, ên trong có 12 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thư c 13x13x25cm, ên ngoài được ọc giấy nhiều màu sắc, in nhiều chữ nư c ngoài và hình ảnh pháo hoa nổ. Nguyễn Thị N khai nhận là pháo hoa nổ loại 9 quả. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị N, phát hiện, thu giữ 24 thùng cattong và 09 ì xác rắn ên trong có chứa 24 hộp hình khối kích thư c 13x13x25cm và 55 hộp hình khối có kích thư c 14x14x10cm, ên ngoài được ọc giấy nhiều màu sắc, in nhiều chữ nư c ngoài và hình ảnh pháo hoa nổ.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị N khai nhận: Khoảng tháng 3/2022, Bùi Thị H2 là chị dâu của mình gọi điện thoại mời chào N mua pháo, nhưng do giá pháo tại thời điểm đó H2 án đắt nên N không mua. Hai ngày sau, H2 tiếp tục gọi điện thoại cho N nói “ Nay tiền kíp Lào rẻ nên mua pháo về mà dùng” pháo loại 36 quả giá 200.000 đồng/hộp, loại 9 quả giá 250.000 đồng/hộp. Thấy giá pháo rẻ nên N àn v i con gái là Đoàn Thị Hồng H, hiện đang sống cùng nhà v i N mua số lượng l n pháo của H2 về cất giấu tại nhà để sử dụng dần, H đồng ý. Để thực hiện hành vi của mình, N và H nhiều lần sử dụng xe ô tô nhãn hiệu DEAWOO GENTRA màu ghi, iển kiểm soát 37A- 476.44 và xe điện a ánh nhãn hiệu RIDING PLEASURE màu xám đen của ông Đoàn Trọng C là chồng của N (Ông C không iết N và H dùng xe ô tô và xe điện để vận chuyển pháo) đến nhà H2 để mua pháo và vận chuyển về nhà mình. Để vận chuyển pháo từ nhà Bùi Thị H2 về cất dấu trên tầng hai nhà mình, N và H còn nhờ Lê Chí B là cháu ngoại và hiện ở cùng nhà v i N tham gia ưng ê pháo lên xe và lên phòng ở tầng hai nhà N cất giấu. Trong đó, N và B tham gia 03 lần, H và B tham gia 04 lần; N, H và B tham gia 01 lần (B không iết ên trong các thùng cát tông và ì xác rắn là pháo) v i tổng số tiền 220.000.000 đồng, trong đó H là người trực tiếp trả tiền gồm: a lần mỗi lần 50.000.000 đồng và một lần 70.000.000 đồng. Đến ngày 28/10/2022, thì ị lực lượng chức năng phát hiện ắt giữ.
* Tại Bản kết luận giám định số 960/KL- KTHS ngày 30/10/2022 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận:
- 180 khối hình hộp chữ nhật, kích thư c 13cm x 13cm x 25cm, mặt ngoài ọc giấy có nhiều hoa văn, màu sắc và chữ nư c ngoài, ên trong mỗi khối hộp có 09 vật hình trụ liên kết v i nhau đựng trong 15 thùng cattong cùng kích thư c 53cm x 40cm x26cm được ký hiệu từ M1 đến M15, trong mỗi thùng cattong có 12 khối gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi ị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ); có khối lượng là 314,8 kg;
- 12 khối hình hộp chữ nhật có cùng kích thư c 13cm x 13cm x 25cm, mặt ngoài ọc giấy có nhiều hoa văn, màu sắc và chữ nư c ngoài, ên trong mỗi khối hộp có 09 vật hình trụ liên kết v i nhau đựng trong 01 thùng cattong có kích thư c 55cm x 42cm x 30cm, được ký hiệu là M16, gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi ị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 21,2kg;
- 144 khối hình hộp chữ nhật có kích thư c 14cm x 14cm x 10cm, mặt ngoài ọc giấy có nhiều hoa văn, màu sắc và chữ nư c ngoài, ên trong mỗi khối hộp có 36 vật hình trụ liên kết v i nhau đựng trong 06 thùng cattong cùng kích thư c 45cm x 31cm x 42cm, được ký hiệu từ M17 đến M22, trong mỗi thùng có 24 khối, gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi ị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 178kg;
- 07 khối hình hộp chữ nhật cùng kích thư c 14cm x 14cm x 10cm, mặt ngoài ọc giấy có nhiều hoa văn, màu sắc và chữ nư c ngoài, ên trong mỗi khối hộp có 36 vật hình trụ liên kết v i nhau đựng trong 01 thùng cattong có kích thư c 45cm x 31cm x 42cm, được ký hiệu là M23, gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi ị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 8,2kg;
- 216 khối hình hộp chữ nhật có kích thư c 14cm x 14cm x 10cm, mặt ngoài ọc giấy có nhiều hoa văn, màu sắc và chữ nư c ngoài, ên trong mỗi khối hộp có 36 vật hình trụ liên kết v i nhau đựng trong 09 ao tải loại xác rắn màu trắng, được ký hiệu từ M24 đến M32, ên trong mỗi ao tải có 24 khối gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi ị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 261,5kg.
- 12 khối hình hộp chữ nhật, có cùng kích thư c 13cm x 13cm x 25cm, ên ngoài ọc giấy nhiều màu sắc, in nhiều chữ nư c ngoài, ên trong mỗi khối hộp có 09 vật hình trụ liên kết v i nhau được đựng trong trong 01 thùng cattong, kích thư c 53cm x 43cm x 26 cm, được ký hiệu là A gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi ị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ) có khối lượng là 21kg.
Tổng khối lượng pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi ị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ) là 804,7 kg.
* Tại ản Kết luận định giá số 06/KLĐG- HĐĐGTS ngày 24/02/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy an nhân dân huyện H, kết luận:
- Giá trị 01 xe ô tô nhãn hiệu DEAWOO GENTRA màu ghi, iển kiểm soát 37A- 476.44, đã qua sử dụng là 100.000.000 đồng;
- Giá trị 01 xe điện a ánh nhãn hiệu RIDING PLEASURE màu xám đen, đã qua sử dụng là 7.000.000 đồng.
Tổng giá trị của hai chiếc xe nêu trên là 107.000.000 đồng.
Tại ản án hình sự sơ thẩm số 23/2023/HSST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:
1. Về tội danh: Tuyên ố các ị cáo Nguyễn Thị N, Đoàn Thị Hồng H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
2. Về hình phạt chính: - Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt ị cáo Nguyễn Thị N 06 (S) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày ắt ị cáo đi thi hành án.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt ị cáo Đoàn Thị Hồng H 03 (Ba) năm tù, thời hạnh tù tính từ ngày ắt ị cáo đi thi hành án.
3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 191; điểm e khoản 2 Điều 32; khoản 2 Điều 35 Bộ luật hình sự: Xử phạt ị cáo Nguyễn Thị N số tiền 30.000.000 đồng, ị cáo Đoàn Thị Hồng H số tiền 20.000.000 đồng tiền ngân hàng N2. Thời hạn chấp hành hình phạt tiền tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật
Ngoài ra ản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 11/5/2023, ị cáo Nguyễn Thị N, Đoàn Thị Hồng H làm đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt chính và hình phạt ổ sung.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ị cáo Đoàn Thị Hồng H có đơn xin rút toàn ộ nội dung kháng cáo, ị cáo Nguyễn Thị N giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội của mình đúng v i nội dung ản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của các ị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các ị cáo, xem xét kháng cáo của các ị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 342, điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối v i ị cáo Đoàn Thị Hồng H; áp dụng điểm khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử chấp nhận một phần kháng cáo của ị cáo Nguyễn Thị N, sửa ản án sơ thẩm theo hư ng giảm cho ị cáo N 6 tháng tù, xử phạt ị cáo 5 năm 6 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Kháng cáo của các ị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm:
Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của ị cáo và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Nguyễn Thị N và Đoàn Thị Hồng H mua 840,7 kg pháo về cất dấu nhằm mục đích sử dụng. V i hành vi nêu trên, Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh đã xét xử ị cáo Nguyễn Thị N, Đoàn Thị Hồng H về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, hành vi phạm tội và nội dung kháng cáo của các ị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội của các ị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nư c trong quản lý, kinh doanh hàng cấm. Hành vi đó thể hiện sự táo ạo, liều lĩnh, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy mức án mà Tòa án sơ thẩm xét xử đối v i các ị cáo là nghiêm minh.
Đối v i kháng cáo của ị cáo Đoàn Thị Hồng H, ị cáo H có yêu cầu xin rút toàn ộ nội dung kháng cáo, xét thấy việc rút đơn kháng cáo của ị cáo là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự chấp nhận việc rút đơn kháng cáo và Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i ị cáo Đoàn Thị Hồng H.
Xét kháng cáo của ị cáo Nguyễn Thị N, tại cấp sơ thẩm, ị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “thành khẩn khai áo”, hiện đang thờ cúng anh trai của chồng ông Đoàn V là liệt sỹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại giai đoạn phúc thẩm ị cáo Nguyễn Thị N đã nộp phạt hình phạt ổ sung ằng tiền số tiền 30.000.000 đồng theo iên lai thu tiền số 0004920 ngày 17/8/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Sơn. Ngoài ra, ị cáo Nguyễn Thị N còn cung cấp nộp hồ sơ ệnh án thể hiện ị ệnh đái tháo đường, ệnh tăng huyết áp, rối loạn giấc ngủ, chóng mặt kịch phát lành tính, trào ngược dạ dày, thực quản, đau ngực, gan nhiễm mỡ, hở van hai kèm theo lá, viêm dạ dày ruột và viêm đại tràng. Trên cơ sở xem xét một cách toàn diện về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét ị cáo Nguyễn Thị N có nhiều tình tiết m i giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, là người cao tuổi, mắc nhiều ệnh tật, sau khi phạm tội đã ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xét xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối v i ị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, vì vậy kháng cáo của ị cáo được chấp nhận.
Xét kháng cáo của ị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt ổ sung, xét thấy mức phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt là phù hợp v i hành vi phạm tội và vai trò của ị cáo trong vụ án, hiện ị cáo đã nộp phạt đầy đủ nên Hội đồng xét xử giữ nguyên mức phạt ổ sung như ản án sơ thẩm.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị N, Đoàn Thị Hồng H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, không ị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 342, khoản 1 Điều 348, điểm , đ khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
[1] Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i ị cáo Đoàn Thị Hồng H
[2] Chấp nhận một phần kháng cáo của ị cáo Nguyễn Thị N. Sửa ản án sơ thẩm số 23/2023/HS-ST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Tuyên ố ị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt ị cáo Nguyễn Thị N 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày ị cáo thi hành án.
2. Về hình phạt ổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 191; điểm e khoản 2 Điều 32; khoản 2 Điều 35 Bộ luật hình sự: Xử phạt ị cáo Nguyễn Thị N số tiền 30.000.000 đồng, ị cáo Đoàn Thị Hồng H số tiền 20.000.000 đồng tiền ngân hàng N2. Hiện các ị cáo đã nộp đủ theo iên lai thu tiền số 0004920, 0004921 ngày 17/8/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Sơn.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm f, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí của Tòa án ị cáo Nguyễn Thị N, Đoàn Thị Hồng H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, không ị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - PV 06 – Công an tỉnh Hà Tĩnh - TA, CA, VKS, THA sơ thẩm; - Bị cáo; -Lưu hồ sơ, VT, THS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Quang Năng |