- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Hữu T - Hồ Thị Bé H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiên của anh Trang Hữu Thảo về viêc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU ————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 145/2023/HNGĐ-ST Ngày 14 - 7 - 2023 V/v Tranh chấp thay đồi người nuôi con sau khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nhớ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Thanh Tú
Ông Nguyễn Tấn Lộc
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải - Thư ký Tòa án nhân dân huyên Cái Nước.
Trong ngày 14 tháng 7 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyên Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2023/TLST- HNGĐ, ngày 27 tháng 02 năm 2023 về viêc“Tranh chấp yêu cầu thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:155/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trang Hữu Thảo, sinh năm 1986. (Có mặt)
Địa chỉ: Khóm 1, thị t, huyên C, tỉnh C ..
- Bị đơn: Chị Hồ Thị Bé H, sinh năm 1988. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm 1, thị t, huyên C, tỉnh C ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 27/02/2023, trong suốt quá trình suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Trang Hữu Thảo trình bày như sau: Vào ngày 16/6/2021 Tòa án nhân dân huyên Cái Nước ra Quyết định số 156/2021/QĐST-HNGĐ công nhận thuận tình ly hôn giữa anh với chị Hồ Thị Bé H. Về hôn nhân: Cho anh và chị Hồ Thị Bé H ly hôn. Về con chung: Giao hai con chung là Trang Thị Nhã Thanh sinh ngày 28/10/2010 và Trang Thành Phú sinh ngày 27/9/2017 cho chị H được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; anh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng cho đến khi cháu Thanh và cháu Phú đủ 18 tuổi.
Tuy nhiên, sau khi ly hôn cho đến nay hai cháu Thanh và Phú vẫn sống chung với anh, hàng ngày anh là người phải chăm sóc, lo chi phí cho các con ăn học và cấp dưỡng cho các con theo quy định. Còn chị Hồ Thị Bé H thì thường xuyên vắng mặt tại địa phương không rõ lý do và bỏ lại các con cho anh trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục.
Nay anh yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc chị Hồ Thị Bé H giao lại cho anh được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục các con là cháu Thanh và cháu Phú cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi.
Tại phiên tòa, anh T xác định anh vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiên yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục hai con chung là cháu Thanh và cháu Phú, anh không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con.
* Bị đơn là chị Hồ Thị Bé H, quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của anh Trang Hữu Thảo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liêu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Toà án nhận định:
Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền: Xét đơn khởi kiên của nguyên đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại khóm 1, thị trấn Cái Nước, huyên Cái Nước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyên Cái Nước theo quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn là chị Hồ Thị Bé H được triêu tập hợp lê lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị H là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của nguyên đơn:
Xét yêu cầu khởi kiên thay đổi người trực tiếp nuôi con của nguyên đơn khởi kiên yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, giao hai con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào điều kiên kinh tế, xét về thu nhập của anh T làm công viêc tự do, thu nhập ổn định để nuôi dưỡng hai con chung và có đủ khả năng cũng như thời gian nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy về chỗ ở, thu nhập và thời gian chăm sóc con chung thì anh T đủ điều kiên để chăm sóc, nuôi dưỡng con.
Căn cứ vào“Đơn xin xác nhận” ngày 17/02/2023 do nguyên đơn cung cấp có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nước về viêc trình bày của anh Trang Hữu Thảo là đúng sự thật, sau khi ly hôn thì anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai cháu Thanh và Phú; còn chị H thì bỏ địa phương đi đâu không rõ, bỏ lại hai cháu cho anh T nuôi dưỡng, chăm sóc và lo đưa rước đi học.
Xét, hai con chung của anh T và chị H là cháu Trang Ngọc Nhã Thanh sinh năm 2010 và Trang Thành Phú sinh năm 2017 còn nhỏ, nhận thức chưa được phát triển toàn diên. Thêm vào đó, căn cứ vào Biên bản ghi nguyên vọng của cháu Trang Ngọc Nhã Thanh sinh ngày 28/10/2010 thì cháu xác định hiên tại cháu đang sống cha là anh Trang Hữu Thảo và em cháu là Trang Thành Phú. Cháu cũng xác định hiên tại cuộc sống của hai cháu đang rất ổn định và có nguyên vọng sống cùng cha và em. Như vậy, với điều kiên hoàn cảnh như hiên nay để ổn định về tâm sinh lý và phát triển về thể chất, tinh thần cho hai cháu, rất cần sự quan tâm, chăm sóc, yêu thương và giáo dục của cha, mẹ và người thân. Vì vậy, cha, mẹ cần sắp xếp thời gian hợp lý để cùng nhau chăm sóc và nuôi dạy con chung với điều kiên tốt nhất, tránh làm ảnh hưởng tới sự phát triển về thể chất cũng như tâm sinh lý của các con.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo quyền lợi của cháu Thanh và cháu Phú được ổn định về tâm sinh lý, tình cảm, môi trường sống thì viêc giao hai cháu cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với nguyên vọng của các trẻ đồng thời cũng phù hợp với quy định tại khoản 2, 3 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiên của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 6, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lê phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, Căn cứ vào các điều 81, 82, 83, 84, 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Căn cứ vào Điều 6, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lê phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiên của anh Trang Hữu Thảo về viêc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Giao con chung là Trang Thị Nhã Thanh sinh ngày 28/10/2010 và Trang Thành Phú sinh ngày 27/9/2017 cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu Thanh và cháu Phú đủ 18 tuổi. Chị Hồ Thị Bé H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai có quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng viêc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến viêc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con. Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định viêc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
2. Án phí sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), chị Hồ Thị Bé H phải chịu. Hoàn lại cho anh T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0008862 ngày 27/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyên Cái Nước.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân 6 sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND huyên Cái Nước;
- Chi cục THADS huyên Cái Nước;
- TAND tỉnh Cà Mau;
- Lưu hồ sơ.
Tăng Thị Nhớ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tấn Lộc
Đỗ Thanh Tú
Tăng Thị Nhớ
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyên Cái Nước; - Chi cục THADS huyên Cái Nước; - TAND tỉnh Cà Mau; - Ủy ban nhân dân xã Hòa Thành; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Sol Trần Quốc Trí | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Tăng Thị Nhớ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Nhớ |