- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Lê Đức H được ly hôn chị Nguyễn Thị Q.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:145/2022/HNGĐ-ST Ngày: 06-9-2022 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Kha
Ông Nguyễn Hồng Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2022/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2022/QĐ-ST ngày 14/7/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 97a/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12/8/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Lê Đức H, sinh ngày 28/02/1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 1053, tổ 2, khu 34, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Q, sinh ngày 20/8/1993 (vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: Số 1053, tổ 2, khu 34, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ cuối cùng của chị Q tại Việt Nam: Thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn anh Lê Đức H trình bày:
Về hôn nhân: Trước khi kết hôn anh và chị Nguyễn Thị Q được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương. Anh và chị Q đăng ký kết hôn ngày 17/4/2014 tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang nơi anh đăng ký hộ khẩu thường trú. Sau khi kết hôn chị Q về nhà anh làm dâu ngay và chung sống hòa thuận với gia đình nhà chồng. Chung sống cùng nhau một thời gian thì chị Q có bầu nên chị về nhà bố mẹ đẻ sinh sống để thuận tiện đi làm. Sau khi sinh con được 06 tháng thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian vợ chồng mâu thuẫn anh, chị nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo hai vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh, chị đều xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Tháng 10/2017 chị Q đi lao động tại Nhật Bản. Kể từ tháng 10/2017 đến nay anh và chị Q không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị Q.
Về con chung: Anh và chị Q có 01 con chung là cháu Lê Thị Khánh L, sinh ngày 18/5/2015. Hiện nay cháu đang ở cùng anh. Sau khi ly hôn anh đề nghị được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Anh không yêu cầu chị Q phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ: Không có, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị Q là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Tại biên bản làm việc ngày 02/8/2022 và 15/8/2022, ông Nguyễn Văn Q là bố đẻ chị Nguyễn Thị Q cung cấp: Chị Q hiện nay đang xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Chị Q, anh H được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S. Sau khi kết hôn, chị Q về nhà anh H làm dâu ngay và chung sống hòa thuận. Sau khi cưới một thời gian chị Q có bầu nên chuyển về chung sống cùng ông để tiện đi làm. Sau khi sinh con một thời gian thì anh H, chị Q phát sinh mâu thuẫn. Ông có khuyên bảo nhưng không được. Tháng 10/2017 chị Q đi lao động tại Nhật Bản. Chị Q, anh H có 01 con chung là cháu Lê Thị Khánh L, sinh ngày 18/5/2015. Tài sản chung, công nợ của anh, chị không có. Chị Q vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng chị Q không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của chị Q tại Nhật Bản.
Cháu Lê Thị Khánh L có đơn trình bày: Cháu hiện đang ở cùng bố, được bố chăm sóc nuôi dưỡng tốt, vì vậy nếu bố mẹ cháu ly hôn cháu xin ở cùng với bố.
Tại phiên tòa, anh Lê Đức H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Lê Đức H; Biên bản làm việc với bố đẻ của chị Nguyễn Thị Q và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Đối với nguyên đơn anh H có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chị Q không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với chị Q. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt chị Q là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Đức H.
Xử cho anh Lê Đức H được ly hôn chị Nguyễn Thị Q.
Về con chung: Do chị Q hiện nay đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài nên đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Lê Thị Khánh L, sinh ngày 18/5/2015 cho anh Lê Đức H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản, công nợ: Do anh H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Anh Lê Đức H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Lê Đức H khởi kiện xin ly hôn chị Nguyễn Thị Q và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Theo Công văn trả lời số 15227/QLXNC-P5 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh ngày 25/7/2022 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an cung cấp, chị Q xuất cảnh gần đây nhất là ngày 10/10/2017, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước, ngoài ra theo trình bầy của anh H và ông Nguyễn Văn Q là bố đẻ chị Q. Tòa án xác định được nơi cư trú cuối cùng của chị Q ở Việt Nam trước khi xuất cảnh lần gần nhất là: thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”, do bị đơn chị Q đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về sự vắng mặt đương sự: Anh Lê Đức H là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Lê Đức H.
Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Q vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với bố đẻ của chị Q là ông Nguyễn Văn Q để giao thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu ông Nguyễn Văn Q thông báo cho chị Q biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ giải quyết vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa anh Lê Đức H và chị Nguyễn Thị Q. Ông Nguyễn Văn Q cho biết chị Q vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng chị Q không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của chị Q tại Nhật Bản. Nhận thấy, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn chị Q và xử vắng mặt chị Q theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Đức H và chị Nguyễn Thị Q kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 17/4/2014 tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị Q.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Lê Đức H với chị Nguyễn Thị Q. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh H và chị Q chung sống với nhau hòa thuận. Tuy nhiên, sau khi sinh con một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Tháng 10/2017 chị Q đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Kể từ khi chị Q đi lao động tại Nhật Bản đến nay do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh và chị Q được ly hôn. Ngoài ra, ông Q là bố đẻ chị Q cung cấp anh H và chị Q có mâu thuẫn và được gia đình khuyên bảo nhưng không được. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy vợ chồng anh H, chị Q không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H, cho anh H và chị Q được ly hôn là hoàn toàn phù hợp với khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
. Về nuôi con chung: Anh H và chị Q có 01 con chung là cháu Lê Thị Khánh L, sinh ngày 18/5/2015. Hiện nay con chung đang ở cùng anh H và do anh H chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn anh H có nguyện vọng nuôi con chung.
Xét yêu cầu nuôi con chung của anh H: Hội đồng xét xử thấy hiện nay chị Q đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị Q từ khi đi nước ngoài cháu L vẫn do anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, cháu phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, được đi học đầy đủ. Ngoài ra, cháu L trên 07 tuổi trình bầy có nguyện vọng được ở cùng bố. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của anh H được nuôi con chung sau khi ly hôn. Do vậy, căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: Giao anh H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với điều kiện thực tế cũng như quyền và lợi ích về mọi mặt của con chung và nguyện vọng của con chung. Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị Q có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị Q thực hiện quyền này.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trường hợp chị Nguyễn Thị Q về Việt Nam có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
. Về tài sản, công nợ: Anh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Anh Lê Đức H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
1. Về hôn nhân: Anh Lê Đức H được ly hôn chị Nguyễn Thị Q.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Lê Thị Khánh L, sinh ngày 18/5/2015 cho anh Lê Đức H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu Lê Thị Khánh L đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Q không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị Q thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Anh Lê Đức H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000519 ngày 14/7/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Lê Đức H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Anh Lê Đức H vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Chị Nguyễn Thị Q hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh Bắc Giang; -Cục THADS tỉnh Bắc Giang; -UBND xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; -Cổng thông tin điện tử; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án; -Lưu Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |