vanban.org

Bản án 145/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Thanh Xuân, TP. Hà Nội Tuyên án 20/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Dphạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65- Bộ luật hình sự. Áp dụng: Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Dũng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Dphạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH XUÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 145/2021/HSST
Ngày: 20/7/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phúc

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Bình;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan.

- Thư ký phiên tòa : Bà Lê Hồng Hạnh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Thủy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 122/2021/HSST ngày 03/6/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

PHẠM VĂN D - sinh năm 1998; giới tính: Nam; ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Văn L; con bà: Mai Thị H; Vợ: Mã Thị N; có 01con sinh 2019. Tiền án: không; tiền sự: không. DCB số 112 lập ngày 04/3/2021 tại Công an quận Thanh Xuân. Tạm giữ ngày 03/12/2020; Hủy bỏ tạm giữ ngày 11/12/2020. Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Anh Vũ Xuân Q, sinh năm 1976, hiện trú tại: C1209, Chung cư G, phường T, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn D là nhân viên trông giữ xe cơ sở Massage Hương Sen tại địa chỉ số 5 Lê Văn Thiêm, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội với nhiệm vụ: trông giữ xe máy của khách gửi tại cửa hàng, nếu khách đi ô tô thì nhận ô tô của khách rồi lái đến bãi đỗ xe của làng sinh viên Hacinco, khi khách ra về thì lái xe ô tô về cửa hàng bàn giao lại cho khách.

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 29/11/2020, anh Vũ Xuân Q (SN: 1976; HKTT: C1209, Chung cư G, phường T, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội) điều khiển xe ô tô Mercedes GLC 250, BKS: 30F-025.42 đến sử dụng dịch vụ của cơ sở Massage Hương Sen. Anh Q giao chìa khóa xe ô tô của mình cho D để D lái xe ra bãi đỗ xe của làng sinh viên Hacinco. Sau khi đỗ xe tại bãi đỗ xe, D mở hộp đựng đồ giữa ghế lái và ghế phụ của xe ô tô phát hiện bên trong có 01 (một) túi da màu xanh in chữ ROLEX đựng chiếc đồng hồ nhãn hiệu Rolex mặt màu đen, dây kim loại màu bạc có số Serial: 222S04E8; Model: 116200-63600-BLACK, khăn lau đồng hồ cùng 01 thẻ cứng bảo hành có ghi thông tin của chiếc đồng hồ trên. Do đang cần tiền tiêu xài nên D đã trộm cắp bộ đồng hồ trên cất vào túi quần phía trước bên phải rồi trở lại làm việc. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, D sử dụng tài khoản Zalo “nguyễn tuàn thắng” của mình nhắn tin đến tài khoản Zalo “Đức Toàn” của anh Vũ Văn T để thỏa thuận bán chiếc đồng hồ trên đồng thời chụp ảnh đồng hồ cho anh T. Khoảng 23 giờ cùng ngày, tại quán trà đá vỉa hè (cạnh tường bao của Trường THPT Nhân Chính) ở khu vực ngã ba giao cắt giữa đường Ngụy Như Kon Tum và ngõ 116 Nhân Hòa, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội, D bán chiếc đồng hồ trên cho anh T với giá 76.000.000đ kèm theo bao da, khăn lau, thẻ cứng bảo hành. D nói với anh T chiếc đồng hồ trên là bạn của D được tặng và nhờ bán hộ. Số tiền 76.000.000đ, D đã tiêu xài cá nhân hết. Ngay sau khi mua được bộ đồng hồ trên, anh T đã bán lại bộ đồng hồ cho 01 người khách (hiện không xác định).

Đến ngày 02/12/2020, anh Vũ Xuân Q đã đến Cơ quan công an trình báo.

Ngày 03/12/2020, Phạm Văn D đã đến Cơ quan Công an để đầu thú và khai nhận T bộ hành vi phạm tội như nêu trên.

Sau khi xảy ra sự việc, Phạm Văn D đã nhờ chị gái là Phạm Thị H (SN: 1988; Nơi cư trú:phường C, Đống Đa, Hà Nội) tìm, chuộc lại chiếc đồng hồ trên từ một người không quen biết trên mạng xã hội facebook và giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Thanh Xuân.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 113/KL-HĐĐGTS ngày 22/02/2021 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận Thanh Xuân kết luận: 01 chiếc đồng hồ nhãn hiệu Rolex mặt màu đen, dây kim loại màu bạc có số Serial: 222S04E8; Model: 116200-63600-BLACK (đã qua sử dụng) tại thời điểm tháng 11/2020 trị giá 100.000.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc đồng hồ trên cho anh Q. Anh Q đã nhận lại tài sản. Đối với 01 bao da, 01 khăn lau đồng hồ không có giá trị về kinh tế nên Anh Q không yêu cầu định giá, không có yêu cầu đề nghị gì khác. Anh Q có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Phạm Văn D.

Đối với anh Vũ Văn T, về ý thức chủ quan, khi mua chiếc đồng hồ nhãn hiệu Rolex từ Phạm Văn Dkhông biết đó là tang vật vụ án. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Tại bản cáo trạng số 111/CT-VKSTX ngày 31/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân- thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Phạm Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173- Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân sau khi phân tích, đánh giá T bộ tình tiết nội dung vụ án, vẫn giữ nguyên quan điểm theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65- Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.

Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173- Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét T diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phạm Văn D đã khai nhận T bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản, và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Ngày 29/11/2020, bị cáo Phạm Văn D lợi dụng sơ hở của người bị hại đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc đồng hồ nhãn hiệu Rolex mặt màu đen, dây kim loại màu bạc có số Serial: 222S04E8; Model: 116200-63600-BLACK trị giá 100.000.000đ của anh Vũ Xuân Q tại bãi đỗ xe của làng sinh viên Hacinco, đối diện số 15 Lê Văn Thiêm, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 173 - Bộ luật hình sự của Nước CHXHCN Việt Nam.

Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức, nhưng do lười lao động nên đã lao vào con đường phạm tội, thể hiện bị cáo coi thường pháp luật. Đối với bị cáo cần phải áp dụng hình phạt tương xứng, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội có tính chất cơ hội, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã đến Công an đầu thú, tài sản chiếm đoạt đã khắc phục trả lại cho người bị hại; người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mặt khác, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, để có cơ hội trở thành công dân tốt và có điều kiện chăm sóc gia đình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Xét bị cáo không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền theo khoản 5 Điều 173- Bộ luật hình sự.

Đối với anh Vũ Văn T, về ý thức chủ quan, khi mua chiếc đồng hồ nhãn hiệu Rolex từ Phạm Văn Dkhông biết đó là tang vật vụ án. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở, nên không xét.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố bị cáo Phạm Văn Dvề tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173- Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận Thanh Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

* Về bồi thường dân sự: Bị hại là anh Vũ Xuân Q đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì khác, nên Hội đồng xét xử không xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Dphạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65- Bộ luật hình sự.

Điều 136, Điều 331, Điều 333- Bộ luật tố tụng hình sự.

Áp dụng: Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

Xử phạt: Phạm Văn D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo.Thời hạn thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/7/2021).

Giao bị cáo về UBND xã Nga Trường, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa để quản lý giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92- Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự, thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Phạm Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án./.

Cỡ chữ