vanban.org

Bản án 145/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội Tuyên án 25/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Trần Ngọc M phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc M 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 04/5/2021. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc M bị truy tố về tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Trần Ngọc M phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2021/HS- ST
Ngày: 25-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM- THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh. Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Văn Thoại

2. Bà Nguyễn Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tứ- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tham gia phiên tòa:

Bà Tô Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 25/9/2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 132/2020/HSST ngày 19/8/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/QĐXXST-HS ngày 13/9/2021 đối với bị cáo:

TRẦN NGỌC M (Trần Văn M), sinh năm 1971; Nơi đăng ký HKTT: Số 57/376 NGT, Tổ 7, phường ĐG, quận LB, Hà Nội. Nơi cư trú: Không có nơi cư trú cố định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Th và bà Phạm Thị Th; Vợ Trần Thị Thanh Th, đã ly hôn; Có hai con: con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 17/HSST ngày 25/02/2004 của Tòa án nhân dân quận LB, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/5/2005; Bản án số 118/2010/HSST ngày 31/5/2010 của Tòa án nhân dân quận LB, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2011; Bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 04/5/2021, đến ngày 13/5/2021 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

Tổ dân phố KT, thị trấn TQ, huyện GL, Hà Nội.

Người đại diện: Ông Nguyễn Bá S, sinh năm 1963- Tổ trưởng Tổ dân phố KT. Địa chỉ: Tổ dân phố KT, thị trấn TQ, huyện GL, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

- Ông Hoàng A, sinh năm 1960. Địa chỉ: Tổ dân phố KT, thị trấn TQ, huyện GL, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa

- Ông Hoàng Văn B, sinh năm 1974; Địa chỉ: Tổ dân phố KT, thị trấn TQ, huyện GL, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 01 giờ 45 phút ngày 04/5/2021, Tổ công tác Công an thị trấn TQ phối hợp với lực lượng bảo vệ dân phố tổ KT, thị trấn TQ, GL, Hà Nội tuần tra kiểm soát tại khu vực đường mương tổ KT phát hiện đối tượng Trần Ngọc M, sinh 1971 cùng một đối tượng tên T đang có hành vi trộm cắp cây mộc của Tổ dân phố KT, thị trấn TQ, GL. Khi bị phát hiện đối tượng T đã chạy thoát còn M thì bị tổ công tác bắt giữ cùng vật chứng.

Vật chứng thu giữ của Trần Ngọc M: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen, BKS: 30F6-2060, SK: RLHJF2709BY319826, SM: JF27E-1298242 không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) xe bò kéo hai bánh tự chế; 01 (một) cây mộc tán xòe, nhiều nhánh, cao khoảng 2m, đường kính khoảng 7cm; 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Samsung màu vàng đồng, đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0988393971; 01 (một) chiếc thuổng bằng kim loại dài 110cm, cánh thuổng dài 75cm hình trụ tròn, đường kính 2,5cm.

Tại Kết luận định giá tài sản số 83/KL-HĐĐGTS ngày 10/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện GL kết luận: 02 (Hai) cây mộc cao 02 mét, đường kính thân cây phần gốc 07 cm; Thời điểm tài sản bị trộm: ngày 04/5/2021 có giá trị: 7.000.000 (bảy triệu) đồng.

Tại Cơ quan điều tra, bị can M và đối tượng Dương Th khai nhận: Vào khoảng 21 giờ 50 phút ngày 03/5/2021, khi M đang ở khu vực chợ LB, Hà Nội thì có người đàn ông tên T không rõ nhân thân sử dụng số điện thoại 0968623016 gọi đến số điện thoại của M có số sim 0988393971 để thuê M đi chở cây cho T và trả công 100.000 đồng. M đồng ý. Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 04/5/2021, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ, BKS: 30F6-2060 chở M ngồi phía sau xe kéo theo chiếc xe bò hai bánh tự chế đi từ khu vực chợ LB, Hà Nội đến bờ mương thuộc tổ dân phố KT, thị trấn TQ, GL thì T dừng xe, dựng xe máy và xe bò kéo vào sát bờ mương còn M quan sát thấy hai bên thành cầu có nhiều chậu cây cảnh. Lúc này, M biết T rủ M trộm cắp tài sản. T bảo M đứng quan sát xung quanh để cảnh giới cho T đào trộm cây mộc và M đồng ý. Sau đó M dùng tay giữ chậu cây mộc còn T dùng thuổng bằng kim loại mang đi từ trước đào cây mộc cao khoảng 2m, đường kính khoảng 7cm lên khỏi chậu, rồi M cùng T tiếp tục đào tiếp cây mộc thứ hai cao khoảng 2m, đường kính khoảng 7cm đang trồng trong chậu. Khi T và M đào xong thì T bê cây mộc thứ nhất lên xe bò kéo tự chế còn M bê cây mộc thứ hai đặt ở thành cầu, định đưa lên xe bò kéo thì bị lực lượng bảo vệ tổ dân phố KT phát hiện bắt quả tang M cùng vật chứng, đối tượng T bỏ chạy thoát. Đến khoảng 02 giờ 00 cùng ngày, Dương Th, sinh 1987, trú tại: DĐ, DX, GL, Hà Nội điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2, BKS 30A-988.67 màu sơn trắng đi đến bờ mương tổ dân phố KT phát hiện cây mộc nên đã dừng xe, bê cây cho vào cốp phía sau xe ô tô rồi điều khiển xe đi về nhà. Đến khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày, Dương Th đã giao nộp cây mộc trên cho Cơ quan Công an. Lời khai nhận của bị can phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai người liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Vật chứng thu giữ của Dương Th: 01 cây mộc cao khoảng 02m, đường kính gốc 7cm, có nhánh nhiều cành, lá màu xanh.

Ngày 23/7/2021, Cơ quan CSĐT - Công an huyện GL đã trao trả 02 (hai) cây mộc cho ông Nguyễn Bá S là Tổ trưởng Tổ dân phố KT. Ông S đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen, BKS: 30F6-2060, SK: RLHJF2709 BY319826, SM: JF27E-1298242 thu giữ của bị can Trần Ngọc M khai là xe của đối tượng tên T sử dụng làm phương tiện chở M đi trộm cắp tài sản. Qua kết quả tra cứu: Biển kiểm soát 30F6-2060 là xe máy nhãn hiệu Funiture có số máy: 002729, số khung: 002729 màu sơn đỏ đen BKS 30F6-2060: Chủ xe là Anh Nguyễn Ngọc T, sinh: 1979, trú tại: Tổ 16, TT, LB, Hà Nội. Khoảng năm 2010, anh T đã bán chiếc xe cho một người không rõ nhân thân, tên, tuổi, địa chỉ.

Số máy 1298242 là xe máy nhãn hiệu Honda màu xanh, số khung 1420121, BKS 30F6-2060, chủ xe là chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh: 1978, trú tại: Số 2, ngõ 67, tập thể HVCTQG Hồ Chí Minh, NT, CG, Hà Nội. Chị H mua chiếc xe máy trên hơn 20 năm, Đến khoảng năm 2000, chị H đã bán lại cho một người không rõ nhân thân, tên, tuổi, địa chỉ.

Số khung 319826 là xe máy nhãn hiệu Honda màu sơn trắng đỏ xám, số máy 0364488 BKS: 30M4-2007, chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Kim T, trú tại: Số 15, CT, ĐX, HK, Hà Nội. Cơ quan CSĐT - Công an huyện GL đã xác minh trên địa bàn phường ĐX, HK, Hà Nội không có ai tên Nguyễn Thị Kim T.

Đối tượng tên T theo M khai cùng tham gia trộm cắp tài sản, nhưng Cơ quan điều tra chưa làm rõ được đối tượng. Ngày 26/7/2021, Cơ quan CSĐT - Công an huyện GL đã ra Quyết định tách tài liệu liên quan đến hành vi của đối tượng T để tiếp tục điều tra, xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ tiếp tục xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Dương Th là người đã chở một cây mộc mang về nhà nhưng Th không biết đây là cây do M và T trộm cắp. Do vậy Cơ quan CSĐT- Công an huyện GL không xử lý Th là có căn cứ pháp luật.

Chiếc điện thoại di động loại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung màu vàng đồng, thu giữ của Trần Ngọc M, không liên quan đến hành vi phạm tội.

Đối với 01 (một) chiếc xe bò kéo hai bánh tự chế và 01 (một) chiếc thuổng bằng kim loại là công cụ, phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội.

Bản cáo trạng số 135/CT-VKSGL ngày 16/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện GL truy tố Trần Ngọc M về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cũng như Kết luận điều tra của Cơ quan điều tra và bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GL giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Ngọc M từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2021.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo

- Về dân sự: Không phải giải quyết;

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 Biển kiểm soát 30F6-2060, 01 (một) chiếc xe bò kéo hai bánh tự chế và 01 (một) chiếc thuổng bằng kim loại; Tịch thu sung công: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen; Trả lại bị cáo M 01 điện thoại di động loại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung màu vàng đồng.

Bị cáo không có tranh luận gì bổ sung về hành vi vi phạm. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ bị cáo đều đã hơn 90 tuổi hiện không có ai nuôi dưỡng, bị cáo có anh trai là liệt sĩ. Bị cáo đã khai với cơ quan Công an, nhưng do bị giam giữ nên không biết hiện nay bố mẹ thế nào. Mong Tòa án xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, chăm sóc bố mẹ già yếu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Trần Ngọc M khai nhận toàn bộ nội dung vụ việc phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Kết luận điều tra của Cơ quan điều tra và bản Cáo trạng của Viện kiểm sát. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 01 giờ 45 phút, ngày 04/5/2021 tại khu vực đường mương, thuộc tổ dân phố KT, thị trấn TQ, GL, Hà Nội, bị cáo Trần Ngọc M bị bắt quả tang khi đang có hành vi trộm cắp 02 (hai) cây mộc tán xòe cao 02 mét, đường kính thân cây phần gốc 07 cm có giá trị: 7.000.000 (bảy triệu) đồng của Tổ dân phố KT, thị trấn TQ, GL, Hà Nội. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản, vi phạm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ. Việc bị cáo lợi dụng thời gian về đêm để lén lút trộm cắp tài sản gây tâm lý bất an về an ninh, trật tự trong nhân dân. Vì vậy, cần phải có biện pháp xử lý, giáo dục đối với bị cáo. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có anh trai là liệt sĩ, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ già yếu đều trên 90 tuổi. Nội dung này đã được ghi nhận tại lý lịch và Bản án số 17/HSST ngày 25/02/2004 của Tòa án nhân dân quận LB, thành phố Hà Nội. Nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cơ bản phù hợp với kết quả nghị án của Hội đồng xét xử.

Đánh giá về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, không có ai khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không phải xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt này đối với bị cáo vì bị cáo không có việc làm ổn định.

Về dân sự: người bị hại không có yêu cầu gì

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc xe bò kéo và 01 (một) chiếc thuổng bằng kim loại; Tịch thu sung công: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen. Chiếc xe máy này mang BKS 30F6-2060, nhưng không phải của chính chiếc xe Honda Airblad mà là của xe máy nhãn hiệu Funiture có số máy: 002729, số khung: 002729 màu sơn đỏ đen BKS 30F6-2060, hiện chủ xe đã bán cho ai không biết, không truy tìm được nên cần tịch thu tiêu hủy BKS 30F6-2060; Trả lại bị cáo M 01 điện thoại di động hiệu Samsung.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo pháp luật quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Bị cáo Trần Ngọc M phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

- Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc M 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 04/5/2021.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự: Không phải giải quyết.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc xe bò kéo hai bánh tự chế và 01 (một) chiếc thuổng bằng kim loại; 01 chiếc BKS: 30F6-2060 (chiếc xe máy Honda Airblade đang đeo BKS này); Tịch thu sung công: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen không biển kiểm soát, SK: RLHJF2709 BY319826, SM: JF27E-1298242; Trả lại bị cáo M 01 điện thoại di động loại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung màu vàng đồng, đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0988393971 (Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/8/2021 giữa Công an huyện GL và Chi cục thi hành án dân sự huyện GL).

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.

Án xử công khai, sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án vắng mặt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ