vanban.org

Bản án 145/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Anh Lê Minh K được ly hôn chị Nguyễn Thị Như H.

Giao con chung tên Lê Khởi M, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2007, hiện đang ở với anh Lê Minh K cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Như H không cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ ly hôn Khương-Hậu"
  • Tòa quyết gì? Anh Lê Minh K được ly hôn chị Nguyễn Thị Như H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2021/HNGĐ-ST
Ngày 11 tháng 6 năm 2021
Vv “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Duy Minh;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thành Nghĩa;

2. Bà Phạm Thị Tuyết Mai;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công Ki vụ án thụ lý số: 75/2021/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 4 năm 2021, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2021/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2021; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Lê Minh K, sinh năm 1977 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.

Bị đơn: Nguyễn Thị Như H, sinh năm 1981 (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 4 năm 2021, các lời Ki có tại hồ sơ và tại phiên Tòa hôm nay, nguyên đơn anh Lê Minh K trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Như H qua thời gian quen nhau rồi tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 22 tháng 01 năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ anh tại thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Thời gian chung sống đến năm 2019 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên kình cãi nhau từ cuối năm 2019 đến nay. Nay vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa và không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Như H.

- Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị Như H có hai con chung: Lê Vũ K, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2002 và Lê Khởi M, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2007, hai con hiện đang ở với anh. Cháu K đã đủ 18 tuổi, anh yêu cầu được nuôi cháu M, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Anh và chị Nguyễn Thị Như H không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa giải quyết về tài sản.

- Về nợ chung: Anh và chị Nguyễn Thị Như H không nợ ai, không ai nợ anh và chị Nguyễn Thị Như H.

* Bị đơn chị Nguyễn Thị Như H vắng mặt tại phiên Tòa. Theo lời Ki có tại hồ sơ chị Nguyễn Thị Như H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Lê Minh K qua thời gian quen nhau rồi tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 22 tháng 01 năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ anh K tại thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Thời gian chung sống đến đầu năm 2019 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên kình cãi nhau. Nay vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa và không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa nên chị đồng ý ly hôn với anh Lê Minh K.

- Về con chung: Chị và anh Lê Minh K có hai con chung: Lê Vũ K, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2002 và Lê Khởi M, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2007, hai con hiện đang ở với anh K. Cháu K đã đủ 18 tuổi, chị đồng ý giao cháu M cho anh K nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung: Chị và anh Lê Minh K không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa giải quyết về tài sản.

- Về nợ chung: Chị và anh Lê Minh K không nợ ai, không ai nợ chị và anh Lê Minh K.

* Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên Tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân thủ quy định tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Lê Minh K. Giao cháu Lê Khởi M cho anh K nuôi dưỡng, anh K không cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: anh Lê Minh K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà bị đơn là chị Nguyễn Thị Như H cư trú tại thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Nguyễn Thị Như H vắng mặt nhưng đã có lời Ki và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H.

Anh Lê Minh K và chị Nguyễn Thị Như H tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22 tháng 01 năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nên hôn nhân giữa anh K và chị H là hợp pháp. Chị Nguyễn Thị Như H vắng mặt nhưng chị H có bản tự Ki thống nhất ly hôn theo yêu cầu của anh K. Do đó, áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, cho anh K được ly hôn chị H.

Về con chung: Anh Lê Minh K và chị Nguyễn Thị Như H có hai con chung tên Lê Vũ K, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2002 và Lê Khởi M, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2007, hai con hiện đang ở với anh K. Cháu K đã đủ 18 tuổi; chị H đồng ý giao giao cháu M cho anh K nuôi dưỡng và theo nguyện vọng của cháu M muốn ở với anh K nên giao cháu M cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng. Anh K không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung và nợ: Anh K và chị H không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Lê Minh K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sung vào ngân sách nhà nước.

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,

1. Anh Lê Minh K được ly hôn chị Nguyễn Thị Như H.

2. Giao con chung tên Lê Khởi M, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2007, hiện đang ở với anh Lê Minh K cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Như H không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tiền án phí: Anh Lê Minh K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sung vào ngân sách nhà nước, nhưng được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí mà anh K đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005769 ngày 07 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Bình Định.

Đương sự có mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án,Quyết định được thi hành theo quy đinh tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự,người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện T;

- CC THADS H.T;

- Phòng KTNV và THA TAND tỉnh Bình Định;

- UBND xã P, H. T;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Võ Duy Minh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thành Nghĩa Phạm Thị Tuyết Mai

Võ Duy Minh

Cỡ chữ