vanban.org

Bản án 145/2020/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 10/06/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/06/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của các cáo Phạm Anh Q, Phạm Đình Thăng L, Phạm Ngọc P, Đồng Anh D, Nguyễn Duy N. Giữ nguyên Bản án hình Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Anh Q và đồng phạm - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2020/HS-PT
Ngày: 10 - 6 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Long

Các thẩm phán:

Ông Trần Quốc Cường

Ông Mai Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Đức, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên

tòa: Ông Đoàn Ngọc Thanh, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình

xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 384/2019/TLPT-HS ngày 27 tháng 11

năm 2019 đối với cáo Phạm Anh Q và đồng phạm về tội “Giết người”,

“Gây rối trật tự công cộng”. Do có kháng cáo của các b cáo đối với Bản án

hình sự s thẩm số 29/2019/HS-ST ngày 16-10-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh

Quảng Bình.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Phạm Anh Q (tên gọi khác: C), sinh ngày 23 tháng 01 năm 2001 tại Q,

tỉnh Quảng Bình. N i đăng ký HKTT và chỗ ở trước khi b bắt: huyện Q, tỉnh

Quảng Bình; nghề nghiệp: Đánh cá iển; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc:

Kinh; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông: Phạm Quang H và à: Lê

Th T; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bắt tạm giữ ngày 25

tháng 9 năm 2018, sau đó tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam

Công an tỉnh Quảng Bình; có mặt.

2. Nguyễn Tấn T (tên gọi khác: C), sinh ngày 23 tháng 8 năm 2001, tại

xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. N i đăng ký HKTT và chỗ ở hiện tại: Thôn C,

xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Đánh cá iển; trình độ văn hóa:

Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông:

Nguyễn Đức H và à Phạm Th H; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bắt tạm giữ từ ngày 25 tháng 9 năm 2018 đến ngày 04 tháng 10 năm 2018 được Viện kiểm sát nhân dân huyện Q thay thế Biện pháp ngăn chặn; hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi n i cư trú; có mặt.

3. Phạm Đình Thăng L, sinh ngày 03 tháng 10 năm 2000, tại xã C,

huyện Q, tỉnh Quảng Bình. N i đăng ký HKTT và chỗ ở hiện tại: Thôn T, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Đánh cá iển; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông: Phạm Đình T và à Ngô Th T; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; không tạm giữ, không tạm giam, hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi n i cư trú; có mặt.

4. Phạm Ngọc P (tên gọi khác: Cu L, Cu P), sinh ngày 15 tháng 8 năm

2000, tại huyện Q, tỉnh Quảng Bình. N i đăng ký HKTT và chỗ ở hiện tại: Thôn Y, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Đánh cá iển; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông: Phạm Ngọc L và à Trư ng Th Ánh H; vợ, con: Chưa có; tiền án: không; tiền sự: Không; không tạm giữ, không tạm giam, hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi n i cư trú; có mặt.

5. Đồng Anh D (tên gọi khác: S), sinh ngày 29 tháng 4 năm 2000, tại xã

C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. N i đăng ký HKTT và chỗ ở hiện tại: Thôn Y, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Đánh cá iển; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông: Đồng Thanh T (đã chết) và à Phạm Th N; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không, tiền sự: Không; không tạm giữ, không tạm giam, hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi n i cư trú; có mặt.

6. Nguyễn Duy N (tên gọi khác: T), sinh ngày 20 tháng 6 năm 2000, tại

huyện Q, tỉnh Quảng Bình. N i đăng ký HKTT và chỗ ở hiện tại: Thôn DD, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Đánh cá iển; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Ngọc L và à Nguyễn Th X; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; không tạm giữ, không tạm giam, hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi n i cư trú; có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo Phạm Đình Thăng L, Đồng Anh D: Bà

Nguyễn Thị Hương T, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Bình; có mặt.

- Người bị hại: Phạm Ngọc P, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2000, cư trú tại:

Thôn Y, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (cũng là cáo trong vụ án); có mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có một số cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ

liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, kháng ngh Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ, ngày 23 tháng 9 năm 2018, Phạm Đình Thăng L;

Nguyễn Trung N; Đồng Xuân H; Phạm Quốc T; Nguyễn Thanh T; Nguyễn Duy

N; Đồng Anh D; Nguyễn Minh H2; Phạm Ngọc P; Trần Duy T1; Phạm Duy T;

Phạm Ngọc S cùng trú tại xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình tổ chức uống bia tại

nhà của Phạm Ngọc S, ở thôn T, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Cả nhóm

uống ia đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày thì Phạm Đình Thăng L nói với

cả nhóm trước đây Đậu Đức D, ở thôn L, xã C có đánh Nguyễn Minh H2, nên L

rủ cả nhóm đi tìm D để cho H2 đánh, nếu nhóm D đánh lại H2, thì cả nhóm L sẽ

vào đánh lại nhóm D. Sau khi nghe Phạm Đình Thăng L rủ thì cả nhóm gồm 12

người cùng đi ộ từ nhà của Phạm Ngọc S đến nhà của Đậu Đức D để tìm D.

Khi đến nhà D, nghe à Nguyễn Th Quỳnh H là mẹ của D nói D không có ở

nhà thì cả nhóm đi tiếp đến nhà của Nguyễn Tấn T để tìm Đậu Đức D.

Lúc này tại nhà Nguyễn Tấn T có Đậu Đức D; Phạm Anh Q; Đồng Thanh

T1; Phạm Quyết T3; Nguyễn Tấn T đều trú tại xã C, huyện Q và Phan Văn H2,

trú tại xã Quảng Kim, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Thấy nhóm Phạm Đình Thăng

L kéo nhau đi tìm Đậu Đức D nên à Nguyễn Th Quỳnh H gọi điện thoại áo

cho D biết thì Nguyễn Tấn T nghe điện thoại, biết có người đến tìm D, Nguyễn

Tấn T nghĩ là nhóm của Phạm Đình Thăng L tìm D để đánh nên đã đi vào phòng

ngủ lấy 02 cây dao (loại dao đôi, có thể ghép vào với nhau), mỗi cây dao dài 21

cm, mũi dao nhọn, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 10 cm, rồi dắt vào hông

trái và lấy 01 cây dao xếp, bấm dài 16 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài

6,5 cm, mũi dao nhọn; cán dao ằng nhựa màu đen (phần cán dao có thể sử dụng

chức năng làm ật lửa) dắt vào hông ên phải rồi rủ Phan Văn H2, Phạm Quyết

T3 và Đồng Thanh T1 đi hai xe mô tô đến nhà của Đậu Đức D nhưng không

thấy ai đến tìm D nên cả nhóm đi dọc theo đường bờ biển rồi quay về nhà của

Nguyễn Tấn T. Khi đi Đậu Đức D và Phạm Anh Q đang ngủ ở nhà Nguyễn Tấn

T.

Nhóm của Phạm Đình Thăng L sau khi biết Đậu Đức D không có ở nhà,

thì cả nhóm đi ộ đến nhà của Nguyễn Tấn T để tìm nhưng cũng không thấy ai,

nên cả nhóm ngồi trước nhà của Nguyễn Tấn T đợi đến khoảng 00 giờ ngày 24

tháng 9 năm 2018 thì thấy nhóm Nguyễn Tấn T, Phan Văn H2, Phạm Quyết T3

và Đồng Thanh T1 đi xe máy về nhà T. Thấy nhóm Nguyễn Tấn T, nhóm Phạm

Đình Thăng L yêu cầu gọi Đậu Đức D ra nói chuyện, Phan Văn H2 và Đồng

Thanh T1 vào gọi Đậu Đức D và Phạm Anh Q đang ngủ trong phòng ngủ của T

ở tầng hai dậy và nói có người đến tìm D. T1 và D đi xuống trước gặp nhóm của

Phạm Đình Thăng L, còn Phạm Anh Q nghe T1 gọi dậy, thì Q đi ra lan can tầng

hai nhìn xuống đường thấy có nhiều người nên Phạm Anh Q vào lại phòng ngủ

của Nguyễn Tấn T lấy 01 cây dao xếp dài 22 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 09 cm, đầu mũi nhọn, cán dao ở thân ên trái ốp nhựa màu nâu có chữ “KK-5333” đang để trên tủ nhựa đựng quần áo của Nguyễn Tấn T mà trước đó Q đã nhìn thấy, rồi cất dao ở túi quần dài phía sau ên phải và đi xuống v trí hai nhóm đang đứng ở đường trước cổng nhà T. Sau khi nghe Phạm Đình Thăng L nói muốn gặp Đậu Đức D, Nguyễn Tấn T hỏi L gặp D để làm gì rồi T rút a cây dao đang dắt ở hai ên hông ra cầm trên tay để dọa nhóm của L và cất dao. Khi Đậu Đức D từ trong nhà Nguyễn Tấn T đi ra thì T nói với D “Mày ra nói chuyện đi, không thằng nào dám đánh mày đâu”, nên D đi một mình đến nói chuyện với Nguyễn Minh H2.

Trong lúc nói chuyện thì Nguyễn Minh H2 dùng tay phải tát một cái vào

mặt của D, thấy Đậu Đức D và Nguyễn Minh H2 lao vào đánh nhau thì Đồng Anh D, Phạm Ngọc P, Phạm Đình Thăng L và Phạm Quốc T vào dùng chân, tay đánh Đậu Đức D. Đồng Thanh T1, Phạm Quyết T3, Phạm Anh Q và Nguyễn Tấn T cũng xông vào đánh lại nhóm của Phạm Đình Thăng L. Phạm Ngọc P, Phạm Đình Thăng L xông vào đánh Phạm Quyết T3. Phạm Quốc T xông vào đánh nhau với Đồng Thanh T1. Phạm Anh Q và Phạm Quyết T3 xông vào dùng tay chân đánh vào đầu và mặt của Nguyễn Trung N. Phạm Ngọc P xông vào đánh Đồng Thanh T1 và Phạm Quyết T3 thì Đồng Thanh T1 và Phạm Anh Q dùng tay đánh lại. Khi Phạm Đình Thăng L đang dùng tay đánh vào mặt Phạm Quyết T3 thì Nguyễn Tấn T lấy hai cây dao ghép, mở ra cầm trên hai tay rồi đến v trí hai nhóm đang có Phạm Đình Thăng L và Đồng Anh D đang đánh nhau với Phạm Quyết T3 và Đậu Đức D. Khi thấy Phạm Đình Thăng L đang đứng quay lưng về phía Nguyễn Tấn T thì T dùng dao cầm ở tay trái đâm một nhát trúng vào vùng lưng trái của Phạm Đình Thăng L. Phạm Duy T chạy đến thì Nguyễn Tấn T dùng dao đâm một nhát trúng vào vùng vai phải của Phạm Duy T. Khi Phạm Quốc T đang đánh nhau với Đồng Thanh T1 thì Nguyễn Tấn T vào dùng dao đâm liên tiếp hai nhát trúng vào ngực trái và ngực phải của Phạm Quốc T. Đồng Anh D thấy Phạm Đình Thăng L và Phạm Duy T b Nguyễn Tấn T dùng dao đâm thư ng nên D đến ôm hai tay vào người Nguyễn Tấn T từ phía sau thì Nguyễn Tấn T vùng ra nên dao trúng tay trái của Đồng Anh D, khi Đồng Anh D thả Nguyễn Tiến T ra thì T cầm dao tay trái đâm một nhát trúng lưng phải của Đồng Anh D. Lúc này Phạm Ngọc S, Nguyễn Duy N đến gần v trí Phạm Đình Thăng L, Phạm Quốc T và Đồng Anh D để tham gia giúp sức đánh nhau thì Nguyễn Tấn T hét “Tao cầm dao đây này” nên Phạm Ngọc S, Nguyễn Duy N, Trần Duy T1, Đồng Xuân H và Nguyễn Thanh T bỏ chạy theo hướng xuống biển, Nguyễn Tấn T đuổi theo dùng dao đâm một nhát trúng vào cổ của Nguyễn Duy N, rồi tiếp tục đuổi và dùng dao đâm một nhát trúng vào vùng vai phải của Trần Duy T1. Sau khi b đánh, Nguyễn Trung N đi theo đường xuống biển, thấy Phạm Quyết T3 đang đứng ở ên đường thì N đến ôm giữ T3 lại khoảng 3 - 4 phút, thấy Đồng Thanh T1 chạy đến nên Nguyễn Trung

N thả Phạm Quyết T3 ra. Nguyễn Trung N thấy Nguyễn Minh H2 vẫn đang

đánh nhau với Đậu Đức D nên N đến ôm giữ D lại để H2 bỏ chạy rồi N đi ộ

theo hướng xuống biển thấy Đồng Anh D và Phạm Đình Thăng L b thư ng thì

N đến dìu L và D để nhờ người khác đưa đi cấp cứu, còn N chạy bộ lên Trạm y

tế.

Trong lúc đánh nhau, Phạm Anh Q thấy Đậu Đức D đang nhóm của

Phạm Đình Thăng L dùng tay chân đánh thì Phạm Anh Q và Đồng Thanh T1

vào dùng tay chân đánh Phạm Ngọc P. Phạm Anh Q dùng chân đạp vào hông và

dùng tay đấm 2 - 3 cái vào đầu Phạm Ngọc P nên P dùng tay đấm lại Q hai cái

vào vùng đầu. Lúc đứng đối diện với Phạm Ngọc P thì Phạm Anh Q dùng tay

phải rút dao ở túi quần sau ên phải rồi nghiêng người về ên trái, tay phải cầm

dao hướng mũi dao về phía trước (lưỡi dao gần ngón cái và ngón trỏ tay phải)

đứng theo hướng đối diện với P, đâm một nhát theo đường vòng cung, hướng từ

sau tới trước, từ phải qua trái của Phạm Anh Q, mũi dao đâm trúng vào ngực của

Phạm Ngọc P, khi P nghiêng người về phía trước thì Phạm Anh Q dùng dao đâm

tiếp một nhát trúng vào lưng phải của Phạm Ngọc P.

Phạm Anh Q sau khi dùng dao đâm Phạm Ngọc P, thấy Đồng Anh D

đứng gần v trí Đậu Đức D đang đánh và D đang đứng quay lưng lại với Q thì

Q tiến đến phía sau D và dùng tay phải cầm dao đâm ngang, hướng từ sau tới

trước, từ phải qua trái trúng vào phần hông phải của Đồng Anh D. Khi Phạm

Anh Q thấy ông Nguyễn Đức Hùng ố của Nguyễn Tấn T đi từ trong nhà ra thì

Q giấu dao trong lòng àn tay và khi đó Q mới biết ngón trỏ tay phải của mình

đã lưỡi dao cứa vào làm chảy máu. Sau đó Phạm Anh Q chạy đến nói với

Nguyễn Tấn T “Ba mày xuống rồi đừng đánh nhau nữa, đưa dao đây để tao cất”

nên T đưa dao cho Q. Q cất 03 cây dao của T đưa và 01 cây dao Q đã sử dụng

trong lúc đánh nhau vào trong túi quần phía sau ên phải của Q. Khi Nguyễn

Tấn T đi ộ về phía nhà mình, thấy Nguyễn Minh H2 thì T lao vào dùng tay

chân cùng với Đậu Đức D đánh vào người Nguyễn Minh H2 rồi tiếp tục đi theo

hướng về nhà mình.

Sau khi b đâm, Phạm Ngọc P ngồi dựa sát tường, trước ngực chảy nhiều

máu, Phạm Anh Q cùng cả nhóm đưa Phạm Ngọc P đi cấp cứu tại Trạm y tế xã

C. Sau khi s cứu thì Phạm Ngọc P, Đồng Anh D, Phạm Đình Thăng L, Nguyễn

Duy N, Phạm Duy T, Phạm Quốc T và Trần Duy T1 được đưa vào Bệnh viện

Đa khoa khu vực Bắc Quảng Bình để cấp cứu. Sau đó Phạm Ngọc P, Đồng Anh

D, Phạm Đình Thăng L, Nguyễn Duy N và Phạm Duy T được chuyển đến Bệnh

viện Trung ư ng Huế để điều tr .

C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q Quyết đ nh trưng cầu giám

đ nh thư ng tích số 136 ngày 25 tháng 9 năm 2018 đối với Phạm Ngọc P.

Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Thừa Thiên Huế an hành Bản Kết

luận giám đ nh pháp y về tổn thư ng c thể số 296 - 18/TgT ngày 26 tháng 9 năm 2018, đối với Phạm Ngọc P, kết luận: Dấu hiệu chính qua giám đ nh: Vết thư ng thấu tim đã được phẫu thuật khâu tim cầm máu, chưa đánh giá được di chứng. Tỷ lệ tổn thư ng chung c thể hiện tại là: 32% (Ba mư i hai phần trăm). C chế hình thành vết thư ng: Vật sắc nhọn gây ra.

C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q an hành Quyết đ nh trưng

cầu giám đ nh bổ sung số 147/CSĐT Ngày 10 tháng 10 năm 2018, trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế giám đ nh bổ sung tính chất thư ng tích và mức độ tổn hại sức khỏe của Phạm Ngọc P.

Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Thừa Thiên Huế an hành Bản kết

luận giám đ nh pháp y về tổn thư ng c thể số 330 - 18/TgT Ngày 12 tháng 10 năm 2018, kết luận: Dấu hiệu chính qua giám đ nh: Kết quả kết luận pháp y số 296 - 18/TgT ngày 26 tháng 9 năm 2018: Vết thư ng thấu tim đã được phẫu thuật khâu tim cầm máu, chưa đánh giá được di chứng 32%. Kết luận giám đ nh bổ sung: Vết thư ng phần mềm lưng phải để lại sẹo không ảnh hưởng chức năng 01%. Tổn thư ng tim còn điều tr chưa ổn đ nh nên chưa đánh giá di chứng chức năng. Tỷ lệ tổn thư ng chung c thể hiện tại (cho cả hai lần giám đ nh) là 33% (Ba mư i a phần trăm).

C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q an hành Quyết đ nh trưng

cầu giám đ nh bổ sung số 159/CSĐT ngày 29 tháng 10 năm 2018, trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế giám đ nh bổ sung tính chất thư ng tích và mức độ tổn hại sức khỏe của Phạm Ngọc P. Ngày 01 tháng 11 năm 2018, Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Thừa Thiên Huế an hành Bản kết luận giám đ nh pháp y về tổn thư ng c thể số 370 - 18/TgT, kết luận: Dấu hiệu chính qua giám đ nh: Kết quả kết luận pháp y số 296 - 18/TgT ngày 26 tháng 9 năm 2018 và 330 - 18/TgT ngày 12 tháng 10 năm 2018: Vết thư ng thấu tim đã phẫu thuật khâu tim cầm máu, chưa đánh giá được di chứng 32%. Vết thư ng phần mềm lưng phải để lại sẹo không ảnh hưởng chức năng 01%. Kết quả giám đ nh bổ sung: Vết thư ng thấu tim thủng phểu động mạch phổi đã được phẩu thuật khâu tim cầm máu, hiện chức năng tim ổn đ nh 35%. Tỷ lệ tổn thư ng chung c thể hiện tại (cho cả ba lần giám đ nh) là: 36% (Ba mư i sáu phần trăm).

Ngày 16 tháng 3 năm 2019, Trung tâm Pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế ban

hành Công văn số 04/CV-GĐPY nêu rõ:

- Đối với thư ng tích trên c thể của Phạm Ngọc P:

+ Vết thư ng vùng ngực là vết thư ng thấu tim, nó có thể gây nguy hiểm

đến tính mạng, có thể gây tử vong nếu không cấp cứu và điều tr k p thời (hiện tại nạn nhân sống và chức năng tim ổn đ nh, tỷ lệ Tổn hại sức khỏe là 35%).

+ Vết thư ng vùng lưng phải là vết thư ng phần mềm không gây nguy

hiểm đến tính mạng nên không gây chết (hiện đã lành không ảnh hưởng chức

năng, tỷ lệ Tổn hại sức khỏe là 1%).

C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q Quyết đ nh trưng cầu giám

đ nh thư ng tích số 132 ngày 25 tháng 9 năm 2018 đối với Đồng Anh D.

Ngày 26 tháng 9 năm 2018, Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Thừa

Thiên Huế an hành Bản kết luận giám đ nh pháp y về tổn thư ng c thể số 292

- 18/TgT đối với Đồng Anh D, kết luận: Dấu hiệu chính qua giám đ nh: Vết

thư ng phần mềm vùng cẳng tay trái, hông phải, lưng phải. Tỷ lệ tổn thư ng

chung c thể hiện tại là 3%. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe của Đồng Anh D do mỗi vết

gây ra như sau: Vết thư ng phần mềm vùng hông phải: 1%; vết thư ng phần

mềm vùng lưng phải: 1%; vết thư ng phần mềm cẳng tay trái: 1%.

C chế hình thành vết thư ng: Vật sắc nhọn gây ra.

C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q Quyết đ nh trưng cầu giám

đ nh thư ng tích số 133 ngày 25 tháng 9 năm 2018 đối với Phạm Đình Thăng L.

Ngày 26 tháng 9 năm 2018, Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Thừa

Thiên Huế an hành Bản kết luận giám đ nh pháp y về tổn thư ng c thể số 293

- 18/TgT đối với Phạm Đình Thăng L, kết luận: Dấu hiệu chính qua giám đ nh:

Vết thư ng phần mềm vùng lưng trái. Tỷ lệ tổn thư ng chung c thể hiện tại là

1%. C chế hình thành vết thư ng: Vật sắc nhọn gây ra.

C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q Quyết đ nh trưng cầu giám

đ nh thư ng tích số 134 ngày 25 tháng 9 năm 2018 đối với Phạm Duy T.

Ngày 26 tháng 9 năm 2018, Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Thừa

Thiên Huế an hành Bản kết luận giám đ nh pháp y về tổn thư ng c thể số 294

- 18/TgT đối với Phạm Duy T, kết luận: Dấu hiệu chính qua giám đ nh: Vết

thư ng phần mềm vùng vai phải. Tỷ lệ tổn thư ng chung c thể hiện tại là 1%.

Vật gây: Vật sắc nhọn.

C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q Quyết đ nh trưng cầu giám

đ nh thư ng tích số 135 ngày 25 tháng 9 năm 2018 đối với Nguyễn Duy N.

Ngày 26 tháng 9 năm 2018, Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Thừa

Thiên Huế an hành Bản kết luận giám đ nh pháp y về tổn thư ng c thể số 295

- 18/TgT đối với Nguyễn Duy N, kết luận: Dấu hiệu chính qua giám đ nh: Vết

thư ng phần mềm vùng cổ. Tỷ lệ tổn thư ng chung c thể hiện tại là 1%. C

chế hình thành vết thư ng: Vật sắc nhọn gây ra.

C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q Quyết đ nh trưng cầu giám

đ nh thư ng tích số 136 ngày 10 tháng 10 năm 2018 đối với Trần Duy T1.

Ngày 25 tháng 10 năm 2018, Trung tâm giám đ nh Y khoa - Pháp y tỉnh

Quảng Bình an hành Bản kết luận giám đ nh pháp y về thư ng tích số 94/TgT

đối với Trần Duy T1, kết luận: Dấu hiệu chính qua giám đ nh: Vết thư ng sau vai phải để lại sẹo kích thước 1,0cmx1,0cm. Tỷ lệ tổn thư ng c thể do thư ng tích gây nên hiện tại là 03% (không a phần trăm). Tính chất thư ng tích: Thư ng tích trên không gây nguy hiểm cho tính mạng.

C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q Quyết đ nh trưng cầu giám

đ nh thư ng tích số 145 ngày 10 tháng 10 năm 2018 đối với Phạm Quốc T.

Ngày 25 tháng 10 năm 2018, Trung tâm giám đ nh Y khoa - Pháp y tỉnh

Quảng Bình an hành Bản kết luận giám đ nh pháp y về thư ng tích số 95/TgT đối với Phạm Quốc T, kết luận: Dấu hiệu chính qua giám đ nh: Vết thư ng quầng vú phải để lại sẹo, kích thước 1,0cmx1,0cm; Vết thư ng ở khoảng gian sườn 6-7 cạnh đường nách trước trái để lại sẹo kích thước 1,2cmx0,2cm. Tỷ lệ tổn thư ng c thể do thư ng tích gây nên hiện tại là 02% (không hai phần trăm) theo nguyên tắc cộng lùi. Tính chất thư ng tích: Các thư ng tích trên không gây nguy hiểm cho tính mạng.

Với các nội dung trên,

Tại B n án H nh s s thẩm s 29/2019/HS-ST ngày 16/10/2019, Tòa

án nhân dân tỉnh Qu ng B nh đ uy t đ nh:

Tuyên ố b cáo Phạm Anh Q phạm tội “Giết người”;

Tuyên ố các cáo Nguyễn Tấn T, Phạm Đình Thăng L, Đồng Anh D,

Nguyễn Duy N, Phạm Ngọc P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 2 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các

Điều 90, 91, Điều 15, khoản 3 Điều 57, khoản 1 Điều 101, khoản 3 Điều 102 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với b cáo Phạm Anh Q, xử phạt b cáo Phạm Anh Q 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày cáo b bắt tạm giữ 25 tháng 9 năm 2018, sau đó tạm giam.

Quyết đ nh tiếp tục tạm giam b cáo Phạm Anh Q với thời hạn tạm giam 45

ngày kể từ ngày tuyên Bản án s thẩm (16 tháng 10 năm 2019) để bảo đảm thi hành án.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

các Điều 90, 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với b cáo Nguyễn Tấn T, xử phạt b cáo Nguyễn Tấn T 30 (ba mư i) tháng tù, được khấu trừ thời gian b bắt tạm giữ từ ngày 25 tháng 9 năm 2018 đến ngày 04 tháng 10 năm 2018. Thời hạn tù tính từ ngày ắt giam thi hành án.

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều

90, 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với b cáo Phạm Đình Thăng L, xử phạt b cáo Phạm Đình Thăng L 30 (ba mư i) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt giam thi hành án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình

sự năm 2015 đối với các cáo Đồng Anh D, Nguyễn Duy N, Phạm Ngọc P; áp

dụng thêm Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối

với các cáo Phạm Ngọc P, Đồng Anh D, Nguyễn Duy N;

Xử phạt b cáo Phạm Ngọc P 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ

ngày ắt giam thi hành án;

Xử phạt b cáo Đồng Anh D 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ

ngày ắt giam thi hành án;

Xử phạt b cáo Nguyễn Duy N 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ

ngày ắt giam thi hành án;

Ngoài ra, ản án s thẩm còn quyết đ nh trách nhiệm dân sự, xử lý vật

chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.

Trong thời hạn luật đ nh,

Ngày 21 tháng 10 năm 2019, các cáo Nguyễn Tấn T, Phạm Đình Thăng

L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo;

Ngày 21 tháng 10 năm 2019, các cáo Nguyễn Duy N, Phạm Ngọc P

kháng cáo xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 23 tháng 10 năm 2019, cáo Phạm Anh Q kháng cáo xin giảm nhẹ

hình phạt.

Ngày 25 tháng 10 năm 2019, cáo Đồng Anh D kháng cáo xin được

hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã

được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận đ nh như

sau:

. Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai nhận hành vi phạm tội của cáo

Phạm Anh Q phù hợp với lời khai của cáo tại c quan điều tra, phù hợp với

các tài liệu, chứng cứ có tại hồ s vụ án, có đủ c sở kết luận:

Đêm ngày 23/9/2018, cáo Q là người thuộc nhóm Nguyễn Tấn T, đang ở

tại nhà T thì nhóm Phạm Đình Thăng L tìm đến nhà Nguyễn Tấn T để kiếm

chuyện gây sự đánh Đậu Đức D do mâu thuẫn trước đó giữa D (nhóm T) với

Nguyễn Minh H2 (nhóm Phạm Đình Thăng L). Trong khi số thanh niên 2 nhóm

đánh nhau thì Phạm Anh Q xông vào đánh với nhóm của Phạm Đình Thăng L,

dùng dao đâm 1 nhát vào ngực, 1 nhát vào lưng Phạm Ngọc P gây vết thư ng

thấu tim, tiếp đến dùng dao đâm 1 nhát vào hông Đồng Anh T1.

H2 quả Phạm Ngọc P không chết, c quan chuyên môn giám đ nh kết luận

chỉ tổn hại sức khỏe 35% là do được cấp cứu, chữa tr k p thời.

Xét hành vi phạm tội của cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người chưa đạt”, tội danh và hình phạt được quy đ nh tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Án s thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội; Áp dụng

đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt cáo 07 ( ảy) năm tù là tư ng xứng với hành vi phạm tội của cáo, có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của cáo, tại phiên tòa phúc thẩm

cáo không có tình tiết nào mới, khác so với ản án s thẩm. Nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của cáo, cần giữ nguyên án s thẩm.

. Xét kháng cáo của Phạm Đình Thăng L xin giảm nhẹ hình phạt và xin

hưởng án treo; Kháng cáo của cáo Nguyễn Duy N, Phạm Ngọc P xin giảm nhẹ hình phạt; Kháng cáo của cáo Đồng Anh D xin được hưởng án treo; Thì thấy:

Án s thẩm tuyên ố các cáo Phạm Đình Thăng L, Nguyễn Duy N, Phạm

Ngọc P, Đồng Anh D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt cáo L 30 ( a mư i) tháng tù, cáo Nam chín (09) chín tháng tù, cáo P và cáo D mỗi cáo 12 (mười hai) tháng tù; Mức hình phạt này là tư ng xứng với hành vi phạm tội của các cáo, có căn cứ, đúng pháp luật.

Các cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cáo Phạm Đình Thăng L,

Đồng Anh D còn kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các cáo kháng cáo không có tình tiết nào mới, khác so với ản án s thẩm. Nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các cáo, cần giữ nguyên ản án s thẩm.

. Xét kháng cáo của Nguyễn Tấn T xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng

án treo, thì thấy:

Tòa án cấp s thẩm tuyên ố cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Gây rối trật tự

công cộng” theo điểm khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

B cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, tại phiên tòa phúc thẩm, cáo có

tình tiết mới là gia đình cáo là gia đình có công với cách mạng, có ông à nội, à ngoại là thư ng inh được Nhà nước công nhận và hưởng chế độ hàng tháng do Nhà nước cấp. Có anh trai đang tại ngũ, làm nhiệm vụ ảo vệ iển đảo đang ở nhà giàn DK1, thuộc Lữ đoàn 171 Vùng 2 H quân. Được Ủy an nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình chứng nhận ngày 14/11/2019. Nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho cáo, tạo điều kiện cho cáo an tâm cải tạo.

. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề

ngh không chấp nhận kháng cáo của các cáo Q, L, P, Nam, D, giữ nguyên ản án s thẩm;

Chấp nhận một phần kháng cáo của các cáo Nguyễn Tấn T, do có tình

tiết mới, đề ngh Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét.

Đề ngh của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận đ nh của Hội đồng

xét xử, có căn cứ, đúng pháp luật. Nên chấp nhận.

Người ào chữa cho cáo Phạm Đình Thăng L, Đồng Anh D là à

Nguyễn Th Hư ng Thủy: Đề ngh Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt

cho các cáo. Đề ngh này không phù hợp với nhận đ nh của Hội đồng xét xử,

không có căn cứ. Nên không chấp nhận.

. Về án phí hình sự phúc thẩm:

Kháng cáo của các cáo Phạm Anh Q, Phạm Đình Thăng L, Phạm Ngọc

P, Đồng Anh D, Nguyễn Duy N không được chấp nhận nên các cáo phải ch u

tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Kháng cáo của cáo Nguyễn Tấn T được chấp nhận nên cáo không

phải ch u án phí hình sự phúc thẩm

. Các quyết đ nh khác còn lại của Bản án hình sự s thẩm không có

kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,

kháng ngh .

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c khoản 1 Điều 357

Bộ luật tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của các cáo Phạm Anh Q, Phạm Đình

Thăng L, Phạm Ngọc P, Đồng Anh D, Nguyễn Duy N. Giữ nguyên Bản án hình

sự s thẩm số 29/2019/HS-ST ngày 16/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng

Bình đối với các cáo.

Chấp nhận kháng cáo của cáo Nguyễn Tấn T, sửa ản án s thẩm số

29/2019/HS-ST ngày 16/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, giảm

nhẹ một phần hình phạt cho cáo.

Xử phạt:

- Áp dụng khoản 2 Điều 123; các điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các

Điều 90, 91, Điều 15, khoản 3 Điều 57, khoản 1 Điều 101, khoản 3 Điều 102 Bộ

luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, ổ sung năm 2017);

1. Xử phạt cáo Phạm Anh Q 07 (Bảy) năm tù. Về tội “Giết người”.

Thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2018;

- Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều

90, 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, ổ sung năm

2017);

2. Xử phạt cáo Phạm Đình Thăng L 30 ( a mư i) tháng tù. Về tội

“Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày ắt giam thi hành án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ

luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, ổ sung năm 2017);

3. Xử phạt b cáo Phạm Ngọc P 12 (mười hai) tháng tù. Về tội “Gây rối

trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày ắt giam thi hành án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, ổ sung năm 2017);

4. Xử phạt cáo Đồng Anh D 12 (Mười hai) tháng tù. Về tội “Gây rối

trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày ắt giam thi hành án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ

luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, ổ sung năm 2017);

5. Xử phạt cáo Nguyễn Duy N 09 (Chín) tháng tù. Về tội “Gây rối trật

tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày ắt giam thi hành án.

- Áp dụng: điểm khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều

51; các Điều 90, 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, ổ sung năm 2017);

6. Xử phạt cáo Nguyễn Tấn T 24 (Hai mư i ốn) tháng tù. Về tội

“Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày ắt giam thi hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 25/9/2018 đến ngày 04/10/2018.

7. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các cáo Phạm Anh Q, Phạm Đình

Thăng L, Phạm Ngọc P, Nguyễn Duy N, Đồng Anh D mỗi cáo phải ch u 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

B cáo Nguyễn Tấn T không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

8. Các quyết đ nh khác còn lại của Bản án hình sự s thẩm số 29/2019/HS-

ST ngày 16/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

N i nhận:

Cỡ chữ