vanban.org

Bản án 145/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 19/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Anh Đ, Nguyễn Sơn Ngọc M - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật hình sự phạt tiền; Điều 20 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 145 /2017/HSST
Ngày 19 - 9 - 2017

NHÂN DANH

NƢỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phá n – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thi ̣ Xuân Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Trọng Phúc

2. Bà Phí Thị Thanh Huyền

- Thư ký phiên tò a : Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình.

- Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân thà nh phố Thá i Binh tham gia phiên tò a :

̀ Bà Vũ Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình , tỉnh Thái Binh, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

̀ thụ lý số 149/2017/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2017 đối vớ i các bị cáo:

1. Họ tên: TRẦN ANH Đ, sinh ngày 05/01/1996.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số nhà 09, ngõ 124, đường H, tổ 19, phường Đ, thành phố T, tỉnh T.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12.

Con ông: Trần Ngọc T (đã chết); Con bà: Trương Thị Mai P - SN 1965.

Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con út.

* Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ kể từ ngày 07/6/2017 đến ngày 16/6/2017 chuyển tạm giam đến nay. Hiê ̣n bi ̣ cáo đang bi ̣ ta ̣m giam ta ̣i Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Binh.

̀

2. Họ tên: NGUYỄN SƠN NGỌC M, sinh ngày 11/02/1996.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số nhà 14, ngõ 177, đường H, tổ 13, phường L, thành phố T, tỉnh T.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12.

Con ông: Nguyễn Văn S - SN 1954; Con bà: Trần Thị M - SN 1975.

Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

* Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ kể từ ngày 06/6/2017 đến ngày 15/6/2017 chuyển tạm giam đến nay. Hiê ̣n bi ̣ cáo đang bi ̣ ta ̣m giam ta ̣i Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Binh.

̀

( Các bị cáo trích xuất có mặt tại phiên tòa).

* Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Đoàn Vĩnh K, sinh năm 1974. Trú tại: Số nhà C13, khu tập thể 4 tầng, tổ 24, phường L, thành phố T, tỉnh T. (Vắng mặt)

* Ngƣời làm chứng:

- Ông Phạm Quang T, sinh năm 1960. Trú tại: Số nhà 26, đường Hoàng Văn T, tổ 06, phường L, thành phố T, tỉnh T. (Vắng mặt)

- Ông Nhâm Văn T, sinh năm 1958. Trú tại: Số nhà 1/6, ngách 13, tổ 31, phường L, thành phố T, tỉnh T. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ Á N:

Theo các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án và diễn biến ta ̣i phiên tòa , nô ̣i dung vu ̣ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 05/6/2017, Trần Anh Đ ra khu vực sân bóng đá thuộc phường T, thành phố T mục đích mua ma túy về bán kiếm lời. Tại đây Đ gặp một người phụ nữ khoảng 40 tuổi không quen biết mua 10.000.000 đồng tiền ma túy các loại gồm: 01 túi nilon chứa Kentamine với giá 2.000.000 đồng; 10 túi nilon chứa tổng cộng 65 viên ma túy tổng hợp với giá 6.500.000 đồng và 05 túi nilon đều có chứa ma túy đá có kích thước khác nhau với giá 1.500.000 đồng. Sau đó Đ mang số ma túy trên về nhà cất giấu. Đến khoảng 14 giờ ngày 06/6/2017, Nguyễn Sơn Ngọc M đến nhà Đ chơi. Một lúc sau, Đ có việc đi ra ngoài còn M vẫn ngồi chơi điện tử tại nhà Đ. Đến 17 giờ cùng ngày có Đoàn Vĩnh K, sinh năm 1974; Trú tại: Số nhà C13, khu tập thể 4 tầng, tổ 24, phường L, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình gọi điện cho Đạt hỏi mua 400.000 đồng ma túy đá. Đạt đồng ý bán và hẹn Ký nhận ma túy tại khu vực chân cầu thang tầng 01, khu tập thể 4 tầng, tổ 24, phường L, thành phố T. Do có việc không về được nên Đ đã gọi điện nhờ M lấy túi ma túy đá để ở trên mặt bàn vi tính trong phòng ngủ nhà Đ cầm giao cho K lấy 400.000 đồng. M nhận lời rồi điều khiển xe mô tô Wave anpha màu xanh biển số 17K4-3974 mang gói ma túy của Đ giao cho K tại khu vực chân cầu thang tầng 1, khu tập thể 4 tầng thuộc tổ 24, phường L, thành phố T. Khi M vừa đưa gói ma túy và nhận tiền của K thì bị tổ công tác Phòng cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy công an tỉnh T phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác đã yêu cầu M, K và mời người làm chứng về trụ sở Công an phường L, thành phố T để làm việc. Tại đây, trước sự chứng kiến của hai người làm chứng tổ công tác tiến hành kiểm tra người Đoàn Vĩnh K thu giữ tại túi quần bên trái phía trước 01 điện thoại Qmobile màu đỏ đen đã cũ và 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt, K khai nhận là ma túy đá vừa mua của M với giá 400.000 đồng, tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng, ký hiệu là M1. Kiểm tra người M thu giữ tại túi quần bên trái phía trước số tiền 400.000 đồng (gồm 04 tờ tiền, mỗi tờ mệnh giá 100.000 đồng), M khai nhận là tiền vừa bán ma túy cho K mà có. Kiểm tra xe mô tô không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, biên bản quản lý phương tiện.

Cùng ngày cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Anh Đ tại số nhà 09, ngõ 124, đường H, tổ 19, phường Đ, thành phố T, tỉnh T đã thu giữ:

- Trần Anh Đ tự nguyện lấy ra từ trong 01 hộp bằng giấy cứng để trên mặt bàn trong phòng ngủ giao nộp: 01 túi nilon trong suốt kích thước khoảng 4x10 cm, bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng, tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng ký hiệu là M2; 02 túi nilon trong suốt kích thước khác nhau bên trong đều chứa chất dạng tinh thể trong suốt, tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng ký hiệu là M3; 10 túi nilon trong suốt có kích thước khác nhau bên trong đều chứa các viên nén hình trụ tròn màu xanh, một mặt có chữ LV lồng vào nhau, một mặt có gạch ngang, tổng số là 65 viên, tổ công tác đã tiến hành niêm phòng vật chứng ký hiệu là M4. Đ khai nhận tất cả số vật chứng Đ tự nguyện giao nộp ở trên đều là ma túy tổng hợp của Đ, mua về nhà cất giấu với mục đích để bán kiếm lời.

- Thu trên mặt bàn vi tính trong phòng ngủ của Trần Anh Đ: 02 túi nilon trong suốt kích thước 5x7 cm bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt, Đ khai nhận là ma túy tổng hợp của Đ, mua về nhà cất giấu với mục đích để bán kiếm lời, tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng ký hiệu là M5; 01 cân điện tử vỏ màu đen đã cũ.

- Thu dưới gầm bàn máy vi tính trong phòng ngủ của Trần Anh Đ 01 hộp bằng nhựa không có nắp bên trong chứa 60 vỏ túi nilon trong suốt.

Bản kết luận giám định số 212/KLGĐ - PC54 ngày 07/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu M1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có trọng lượng 0,2481 gam (Không phẩy hai nghìn bốn trăm tám mươi mốt gam); Mẫu M2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có trọng lượng 40,1280 gam (Bốn mươi phẩy một nghìn hai trăm tám mươi gam); Mẫu M3 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có trọng lượng 5,1130 gam (Năm phẩy một nghìn một trăm ba mươi gam); Mẫu M4 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có trọng lượng 21,4650 gam (Hai mươi mốt phẩy bốn nghìn sáu trăm năm mươi gam); Mẫu M5 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có trọng lượng 4,8690 gam (Bốn phẩy tám nghìn sáu trăm chín mươi gam)”

Quá trình điều tra , truy tố và ta ̣i phiên tòa hôm nay , Trần Anh Đ và Nguyễn Sơn Ngọc M đa khai nhâ ̣̃

n toàn bô ̣ hành vi pha ̣m tô ̣i của minh.

̀

Bản cáo trạng số 157/KSĐT ngày 25/8/2017 của Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bi ̣ cáo Trần Anh Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm m khoản 2 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự và truy tố bị cáo

̀ Nguyễn Sơn Ngọc M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa , đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Trần Anh Đ và Nguyễn Sơn Ngọc M về tô ̣i Mua bán trái phép chất ma túy.

Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xư: ̉

̀

- Áp du ̣ng: Điểm m khoản 2, khoản 5 - Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 - Điều 46; Điều 20; Điều 33 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt: Bị cáo Trần Anh Đ mứ c án từ 10 năm tù đến 11 năm tù, thờ i hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 07/6/2017.

Phạt tiền đối với bị cáo Trần Anh Đ từ 07 triệu đồng - 10 triệu đồng.

- Áp dụng: Khoản 1, khoản 5 - Điều 194; điểm p khoản 1- Điều 46; Điều 20; Điều 33 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn Ngọc M mứ c án từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù, thờ i ha ̣n tù tinh từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 06/6/2017.

́

Phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Sơn Ngọc M từ 05 triệu đồng - 07 triệu đồng.

Và các vấn đề khác cần giải quyết trong vụ án.

Trướ c khi Hô ̣i đồng xét xử vào phòng nghi ̣ án , các bi ̣ cáo trinh bày lờ i nói sau

̀ cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án , căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án đa đượ̃

c thẩm tra, xét hỏi, tranh luâ ̣n ta ̣i phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy như sau:

Về hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên , Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh , Kiểm sát viên

̀ trong quá trinh điều tra , truy tố đa thự̃

c hiê ̣n đúng về thẩm quyền , trình tự, thủ tục

̀ quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa , các bi ̣ cáo

̀ không có ý kiến hoă ̣c khiếu na ̣i về hành vi , quyết đi ̣nh của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng . Do đó , các hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃

c hiê ̣n đều hợp pháp.

Lờ i khai của các bi ̣ cáo ta ̣i phiên tòa hôm nay phù hợp vớ i lờ i k hai của các bi ̣ cáo tại giai đoạn điều tra , truy tố , phù hợp với các tài liệu , chứ ng cứ như: Biên bản bắt ngườ i pha ̣m tô ̣i quả tang lâ ̣p hồi 18 giờ 15 phút ngày 06/6/2017 (bút lục số 05-08); Biên bản khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Trần Anh Đ lập 23 giờ ngày 06/6/2017 (bút lục số 16-17); Biên bản niêm phong vâ ̣t chứ ng (bút lục số 19-20); Cùng các tài liệu, chứ ng cứ khác có trong hồ sơ vu ̣ án.

Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luâ ̣n: Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 06/6/2017 tại khu vực chân cầu thang tầng 01, khu tập thể 4 tầng, tổ 24, phường L, thành phố T, Nguyễn Sơn Ngọc M có hành vi bán trái phép 0,2481 gam ma túy, loại Methamphetamine cho Đoàn Vĩnh K lấy 400.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang. Số ma túy trên là do Trần Anh Đ nhờ M bán hộ. Ngoài ra Đ còn có hành vi cất giấu trái phép 40,1280 gam ma túy, loại Ketamine; 21,4650 gam ma túy, loại MDMA và 9,9820 gam ma túy, loại Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời.

Như vậy Hội đồng xét xử có đủ căn c ứ kết luâ ̣n hành vi nêu trên của bị cáo Trần Anh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Sơn Ngọc M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tú y” theo khoản 1 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.

̀

Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sƣ̣̀

quy đi ̣nh:

"1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

e) Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma tuý cho trẻ em;

g) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một kilôgam;

h) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam;

i) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ mười kilôgam

đến dưới hai mươi lăm kilôgam;

k) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới hai

trăm kilôgam;

l) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới năm mươi

kilôgam;

m) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ hai mươi gam đến dưới một trăm gam;

n) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ một trăm mililít đến dưới hai trăm năm mươi mililít;

o) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương

đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản 2 Điều này;

p) Tái phạm nguy hiểm.

…..

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".

Xét tính chất, mức độ hậu quả và nhân thân của các bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền về các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là một hiểm họa của xã hội loài người, nó gây ra những tác hại khôn lường cho sức khỏe, trí tuệ, nhân cách và nòi giống con người và là nguồn gốc của hàng loạt tội phạm khác gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người đã trưởng thành, bản thân hiểu rõ về tác hại của ma túy, nhưng vì hám lời nên các bị cáo đã lao vào con đường phạm tội, gieo rắc cái chết trắng cho đồng loại. Hội đồng xét xử cần xem xét để tuyên cho các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo và cũng để giáo dục từng bị cáo góp phần đấu tranh phòng ngừa chung, nhất là trong bối cảnh hiện nay tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng và ngày càng phức tạp.

Trong vụ án này các bị cáo phạm tội đồng phạm và thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, bản thân các bị cáo đều là người nghiện ma túy nên Đ mục đích mua ma túy về bán kiếm lời và M là người tiếp nhận thông tin từ Đ khi có người hỏi mua ma túy và cho địa chỉ, sau đó M là người trực tiếp giao ma túy và nhận tiền. Bản thân các bị cáo không có hứa hẹn trả công cho việc đưa ma túy, nhưng M cũng đã được Đ cho ma túy để sử dụng. Vì vậy Đ giữ vai trò chính và M đứng vai trò thứ hai trong vụ án, HĐXX xem xét hành vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo để ra một hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo mới đảm bảo hiệu quả của việc cải tạo, giáo dục cũng như phòng chống tội phạm chung cho toàn xã hội.

Xem xét nhân thân và các tinh tiết giảm nhẹ, tăng nă ̣ng trách nhiê ̣m hinh sự

̀

̀ của các bị cáo thấy: Các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưở ng tinh tiết giảm nhe ̣ quy đ ịnh tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình

̀ sự; Ngoài ra ông Trần Ngọc T (bố đẻ bị cáo Trần Anh Đ) là thương binh loại A, thương tật loại 4/4, nên bị cáo Trần Anh Đ được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 - Điều 46 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Về nguồn gốc số ma túy, Trần Anh Đ khai mua của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ tại khu vực sân bóng đá phường T, thành phố T nên cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý.

- Bản thân bị cáo Đ mua trái phép chất ma túy nhằm mục đích bán kiếm lời và bị cáo M là người giao số ma túy cho những người nghiện ma túy để nhận số tiền bán kiếm lời, nên cần áp dụng khoản 5 - Điều 194 Bộ luật hình sự phạt tiền đối với các bị cáo.

- Đối với anh Đoàn Vĩnh K có hành vi mua ma túy mục đích sử dụng nhưng trọng lượng ma túy (loại Methamphetamine) dưới 01 gam. Đoàn Vĩnh K chưa bị kết án về tội tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy hoặc chiếm đoạt chất ma túy nên không cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Bình đã xử lý hành chính đối với K là phù hợp.

* Về xử lý vật chứ ng:

- Số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Anh Đ và Nguyễn Sơn Ngọc M là vật thuô ̣c loa ̣i Nhà nướ c cấm lưu hành , vì vậy cần ti ̣ch thu toàn bộ số vật chứng này để tiêu hủy.

- Số tiền 400.000 đồng thu giữ tại túi quần bên trái phía trước của bị cáo M là tiền bán trái phép chất ma túy cho K mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với chiếc xe mô tô Wave Anpha màu xanh biển số 17K4-3974 quản lý của Nguyễn Sơn Ngọc M, qua điều tra, xác minh là tài sản của ông Trương Văn C, sinh năm 1968, trú tại: Số nhà 08, ngõ 124, đường H, tổ 19, phường Đ, thành phố T, tỉnh T. Ông C không biết việc M mượn chiếc xe trên để đi bán ma túy nên ngày 26/6/2017 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình đã trả lại cho ông C chiếc xe trên, ông C đã nhận lại và không có yêu cầu đề nghị gì khác.

- 01 chiếc điện thoại Iphone 6 màu trắng đã cũ của bị cáo Trần Anh Đ và 01 điện thoại Qmobile của Đoàn Vĩnh K, các bị cáo dùng liên lạc với nhau để mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy cần tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước.

- 01 hộp nhựa không nắp; 60 vỏ túi nilon; 01 cân điện tử vỏ màu đen đã cũ cơ quan Công an đã thu giữ của bị cáo Trần Anh Đ là dụng cụ phạm tội của bị cáo không có giá trị, vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.

* Về á n phi: Các bị cáo Trần Anh Đ và Nguyễn Sơn Ngọc M phải chịu án phí

́ hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luâ ̣t.

* Các bi ̣ cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thờ i ha ̣n luâ ̣t đi ̣nh.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐI ̣NH

1. Tuyên bố : Các bị cáo Trần Anh Đ và Nguyễn Sơn Ngọc M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt:

- Áp dụng: điểm m, khoản 2, khoản 5 - Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 - Điều 46; Điều 20; Điều 33 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm 1999.

̀

Xử pha ̣t bi ̣ cáo Trần Anh Đ 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, thờ i ha ̣n tù tinh

́ từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 07/6/2017.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Đạt 10.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

- Áp dụng khoản 1, khoản 5 - Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 33 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.

̀

Xử pha ̣t bi ̣ cáo Nguyễn Sơn Ngọc M 02 (hai) năm tù, thờ i ha ̣n tù tinh từ ngày

́ bị cáo bị bắt tạm giữ 06/6/2017.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Minh 5.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

3. Về xƣ̉ lý vâ ̣t chƣ́ ng và tài sản khác: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự. Điều 76 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự.

̀

- Chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình trả lại chiếc xe mô tô Wave anpha màu xanh biển số 17K4-3974 cho ông Cường.

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 05 phong bì số 212/KLGĐ được đánh ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5.

- Tịch thu tiêu hủy 01 hộp nhựa không nắp; 60 vỏ túi nilon; 01 cân điện tử vỏ màu đen đã cũ.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng do bị cáo thu lời bất chính từ hành vi phạm tội mà có.

- Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại Iphone 6 màu trắng đã cũ của bị cáo Trần Anh Đ và 01 điện thoại Qmobile của Đoàn Vĩnh K, bị cáo dùng vào việc liên lạc mua bán trái phép chất ma túy.

(Các vật chứng trên đã được bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 25/8/2017).

4. Về á n phí: Áp dụng Điều 99 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự ; Điều 23 Nghị quyết

̀ 326/2016/UBTVQH14.

Các bị cáo Trần Anh Đ và Nguyễn Sơn Ngọc M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phi hình sự sơ thẩm.

́

Án tuyên công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/9/2017; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản sao bản án ./.

Nơi nhâ ̣n:

̀

̉

Cỡ chữ