vanban.org

Bản án 145/2017/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 12/09/2017 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2017/HC-PT
Ngày : 12/9/2017
V/v khiếu kiện quyết định thu hồi
giấy chứng nhận
đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

-

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Huy Tiến

Ông Phạm Tấn Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Ngân - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 171/TLPT-HC ngày 11 tháng 8 năm 2017 về việc: “Khiếu kiện quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do bản án hành chính sơ thẩm số 03/2017/HC-ST ngày 06/7/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 171/2017/QĐ-PT ngày 25 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

* Người khởi kiện: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1964.

Trú tại: Thôn T, xã ĐH, huyện Đ1, tỉnh Kon Tum.

ại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Đình N2, sinh năm 1972.

Trú tại: 63/XX đường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai (

ủy quyền ngày 03/3/2017).

* Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Kon Tum.

Địa chỉ: Khối X1, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.

ại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Văn L –

(

03/3/2017)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Võ Xuân L1, sinh năm 1947.

Trú tại: Tổ 1, Khối X2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.

2. Ông Huỳnh Cao P, sinh năm 1977.

Trú tại: Khối X2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.

3. Bà Trịnh Thị Nguyệt N2, sinh năm 1964.

Trú tại: Tổ dân phố 1, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum.

à Phạm Thị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện bà Phạm Thị N trình bày:

Ngày 19/11/1987, UBND huyện Đ ban hành Quyết định cấp đất ở cho ông Võ Anh Đ (chồng bà N) diện tích 1.000m2 (20x50m) có vị trí tại thôn XY, xã TC, huyện Đ.

Năm 1990 vợ chồng bà N chuyển về quê tại tỉnh Hải Dương để sinh sống, bà đã nhờ vợ chồng ông M, bà N1 trông coi nhà cửa,

và khi nào vợ chồng bà quay về sẽ trả lại lô đất trên. N khi gia đình bà quay lại thì được biết ông M, bà N1 đã bán toàn bộ lô đất nói trên của vợ chồng bà cho một số người, rồi một số người này bán cho ông L1 và ông P (hiện tại hai người này đã xây nhà ở trái phép trên đất của bà).

Đến ngày 14/7/2014, bà được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri BV 271921; số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 02631, thửa đất số 47, tờ bản đồ số 96 diện tích 2803,5m2. Sau khi được cấp bìa đỏ

ông L1 và ông P tháo dỡ nhà trái phép trên lô đất

nếu muốn tiếp tục trên lô đất thì phải mua theo giá thị trường nhưng ông L1, ông P viện cớ đã mua của người khác nên không trả đất

Ngày 26/4/2016, UBND huyện ban hành Thông báo số 24/TB-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận

đất

. Ngày 04/5/2016, bà N

khiếu nại thông báo nêu trên.

Ngày 14/7/2016 UBND huyện Đ ra Quyết định giải quyết khiếu nại số 03/2016/QĐ-GQKN

thu hồi Giấy chứng nhận

đất của bà.

Ngày 21/12/2016 UBND huyện Đ ra Quyết định số 618/QĐ-UBND thu hồi Giấy chứng nhận

đất của bà.

Ngày 12/01/2017 bà khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum hủy Quyết định số 618/QĐ-UBND ngày 21/12/2016 của UBND huyện Đ

thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

.

Ông Ngô Văn L - đại diện theo ủy quyền của người bị kiện UBND huyện Đ trình bày:

Ngày 03/12/2015, UBND huyện Đ nhận được đơn của ông Vũ Xuân L1 và ông Huỳnh Cao P đề nghị UBND huyện Đ xem xét lại việc cấp Giấy chứng nhận

đất cho bà Phạm Thị N. UBND huyện Đ giao cho Thanh tra huyện tiến hành thẩm tra, xác minh vụ việc. Từ kết luận của Thanh tra, UBND huyện ban hành Thông báo số 24/TB-UBND ngày 26/4/2016 về việc thu hồi Giấy chứng nhận

đất. Ngày 04/5/2016, bà N khiếu nại thông báo nêu trên. Qua thẩm tra xác minh vụ việc, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 03/QĐ-

N

thu hồi Giấy chứng nhận

đất. Sau khi hết thời hiệu khiếu nại lần hai đối với Quyết định số 03/QĐ-GQKN, ngày 21/12/2016 UBND huyện ban hành Quyết định số 618/QĐ-UBND thu hồi Giấy chứng nhận

đất

N.

Về căn cứ

thu hồi Giấy chứng nhận đất của bà N, qua thẩm tra, xác minh thể hiện:

Ngày 19/11/1987, UBND huyện Đ ban hành Quyết định cấp đất ở cho ông Võ Anh Đ (là chồng bà N) diện tích 1.000m2 (20x50m) có vị trí tại thôn XY, xã TC, huyện Đ (nay là Khối X2, thị trấn Đ). Năm 1989, hộ gia đình ông Đ về quê và chuyến nhượng toàn bộ diện tích thửa đất trên cho hộ gia đình ông M, bà N1 với giá trị 1,5 chỉ vàng (sang nhượng miệng kèm theo Quyết định cấp đất ở cho ông Võ Anh Đ). Hộ gia đình ông M ở và sử dụng thửa đất trên đến năm 1992 thì sang nhượng lại cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn H và bả Vũ Thị T2 với giá 01 chỉ vàng (sang nhượng miệng kèm theo Quyết định cấp đất ở cho ông Võ Anh Đ) vì lý do ông M chuyển công tác nơi khác. Năm 1995, hộ gia đình ông Đ vào lại huyện Đ, biết được thửa đất đã được sang nhượng quyền sử dụng đất và không yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết.

Đến năm 1997, hộ ông H, bà T2 sang nhượng lại thửa đất trên cho ông Võ Xuân L1 với giá 01 chỉ vàng (Giấy sang nhượng viết tay kèm theo Quyết định cấp đất ở cho ông Võ Anh Đ). Năm 2002, ông L1 sang nhượng một phần diện tích trên cho ông Huỳnh Ngọc T với diện tích 250m2 và một phần diện tích cho bà Thái Thị Thanh T1 với diện tích 300m2. Vì Quyết định cấp đất vẫn còn đứng tên ông Đ nên việc sang nhượng lại thửa đất nói trên phải có xác nhận của ông Đ. Nhằm hợp lý hóa hồ sơ sang nhượng trực tiếp từ hộ gia đình ông Đ không thông qua các hộ gia đình đã được chuyển nhượng trước đó (hộ gia đình ông M, bà N1 và hộ ông H, bà T2) cho các hộ ông L1, bà T1, ông T. Ông L1 làm thủ tục và nhờ ông Đ ký xác nhận. Ông Đ

N đồng ý xác nhận thủ tục sang nhượng đất cho các ông Võ Xuân L1 với diện tích 450m2, ông Huỳnh Ngọc T 250m2, bà Thái Thị Thanh T1

300m2. Hồ sơ sang nhượng nói trên được UBND thị trấn Đ xác nhận. Việc bà N cho rằng vợ chồng bà ký xác nhận vào hồ sơ sang nhượng nhưng các hộ trên chưa trả tiền sang nhượng đất là không đúng. Năm 2008 và năm 2009 ông Huỳnh Cao P nhận sang nhượng toàn bộ diện tích của ông T và bà T1. Ông P và ông L1 sử dụng ổn định thửa đất từ thời điểm sang nhượng đến năm 2014 không xảy ra tranh chấp với ai và hoàn tất nghĩa vụ tài chính đối với diện tích đất đang sử dụng.

Đối với Giấy chứng nhận

đất cấp cho bà Phạm Thị N, năm 2014 vì muốn hợp thức hóa Giấy chứng nhận

đất, ông L1 ủy quyền cho con gái là V Thị X tiến hành làm thủ tục đăng ký

đất đối với thửa đất đang sử dụng. Bà X đến UBND thị trấn Đ để được hướng dẫn th

. Sau khi được công chức Địa chính - Xây dựng hướng dẫn, bà X gặp bà N để nhờ bà kê khai, xác nhận thủ tục đăng ký Giấy chứng nhận đất rồi sang nhượng lại cho các hộ vì Quyết định cấp đất vẫn đứng tên ông Đ. Bà N đồng ý kê khai, xác nhận vào thủ tục và cam kết sau khi được cấp Giấy chứng nhận

đất bà sẽ làm thủ tục sang nhượng lại cho các hộ đang sử dụng đúng như hiện trạng. Nhưng sau khi được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà N thì bà N không đồng ý làm thủ tục sang nhượng lại cho các hộ mà yêu cầu các hộ gia đình ông Vũ Xuân L1 và ông Huỳnh Cao P trả lại diện tích đất đang sử dụng cho bà và xảy ra tranh chấp. Về vấn đề này, UBND thị trấn Đ đã kiểm điểm đối với công chức tư vấn và thực hiện việc cấp giấy chứng nhận

đất cho bà Phạm Thị N.

Từ kết quả thẩm tra, xác minh trên, UBND huyện Đ đã căn cứ điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 ra Quyết định số 618/QĐ-UBND ngày 21/12/2016 về việc thu hồi Giấy chứng nhận

đất cấp cho bà Phạm Thị N là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Diện tích đất đang tranh chấp thì không được cấp Giấy chứng nhận

đất.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Võ Xuân L1 trình bày:

Năm 1997, ông mua mảnh đất tại Khối X2, thị trấn Đ của anh Nguyễn Văn H 05 chỉ vàng, khi mua hai bên có viết giấy tay đồng thời anh H bàn giao cho tôi một trích lục đất mang tên ông Võ Anh Đ. Khi mua đất có ngôi nhà cấp 4 đã cũ, do vợ bị bệnh nên tôi bán một phần đất cho chị Thái Thị Thanh T1, sau đó tôi nhượng lại một phần đất có chiều ngang 11m cho ông Huỳnh Ngọc T với giá là 21 triệu đồng. Cuối năm 2003 tôi làm giấy tờ sang nhượng cho 2 hộ trên. Đến năm 2004 tôi lên UBND thị trấn để làm giấy tờ tách bìa cho 2 hộ bà Thái Thị Thanh T1 và ông Huỳnh Ngọc T. UBND thị trấn đã yêu cầu tôi nhờ anh Võ Anh Đ ký xác nhận đã bán đất thì tôi mới có thể làm giấy tờ được và vợ chồng anh Đ, chị N ký xác nhận vào hợp đồng chuyển nhượng

cho tôi và các hộ khác, trong quá trình sinh sống trên đất tôi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng thuế. Sau đó con gái tôi Võ Thị X có nhờ

địa chính thị trấn thì nên nhờ chị N đứng tên trong Giấy

sau đó chị N sang nhượng lại cho 2 hộ Võ Xuân L1 và Huỳnh Cao P nhưng sau đó bà N kiện lại gia đình chúng tôi chiếm đất của bà, do đó, tôi không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Cao P trình bày:

Ông nhất trí lời trình bày của ông L1. Đất tôi đang ở ổn định 21 năm nay, đất này sang qua nhiều chủ, hộ tôi và ông L1 có nhờ bà N làm thủ tục sang tên cho hai hộ nhưng bà N lợi dụng việc hợp thức hóa không sang tên cho chúng tôi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị Nguyệt N1 trình bày:

Năm 1989 vợ chồng bà có mua nhà và đất vườn của vợ chồng ông Đ, bà N ở thôn XY xã TC, huyện Đ (nay là Khối X2, thị trấn Đ). Chiều rộng lô đất bao nhiêu thì tôi không biết với giá là 1,5 chỉ vàng, chuyển nhượng với giấy viết tay nhưng đã lâu nên bà đã làm mất. Năm 1992 chồng tôi chuyển công tác lên huyện N nên đất bán lại cho vợ chồng nhà T2 H với giá 1 chỉ vàng. Còn sau này vợ chồng T2 H có chuyển nhượng lại cho ai nữa hay không thì bà không nhớ rõ. Trong quá trình ở và canh tác không có ai có tranh chấp hay thắc mắc gì nên bây giờ bà N nói là cho vợ chồng tôi mượn ở nh là hoàn toàn sai. Do đó, bà không chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phạm Thị N.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2017/HC-ST ngày 06/7/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 3; Điều 30; Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

Căn cứ Điều 106 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 30, Điều 32 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Xử: Không chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phạm Thị N đề ngày 12 tháng 01 năm 2017 về việc yêu cầu hủy Quyết định số 618/QĐ-UBND ngày 21/12/2016 của Ủy ban nhân dân huyện Đ.

Ngày 17/7/2017 người khởi kiện bà Phạm Thị N kháng

Viện kiểm sát nhâ

-

N

. Ông L1 ông P

Ủy ban nhân dân huyện Đ

N

-

N

Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 qui đ

-

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Ngày 19/11/1987, Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Quyết định cấp đất ở cho ông Võ Anh Đ (là chồng bà N) diện tích 1.000m2 (20x50m) có vị trí tại thôn XY, xã TC, huyện Đ (nay là Khối X2, thị trấn Đ). [2] Năm 1989, hộ gia đình ông Đ về quê và chuy n nhượng toàn bộ diện tích thửa đất trên cho hộ gia đình ông M, bà N1

Hộ gia đình ông M ở và sử dụng thửa đất trên đến năm 1992 thì sang nhượng lại cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn H và b Vũ Thị T2,

. [3] Đến năm 1997, hộ

ông H, bà T2 sang nhượng lại thửa đất trên cho ông Võ Xuân L1

sang nhượng

viết tay kèm theo Quyết định cấp đất cho ông Võ Anh Đ. Năm 2002, ông L1 sang nhượng một phần diện tích trên cho ông Huỳnh Ngọc T với diện tích 250m2 và một phần diện tích cho bà Thái Thị Thanh T1 với diện tích 300m2.

P

T và bà T1. [4]

hợp đồng ông Đ

N đồng ý

sang nhượng đất cho các ông Võ Xuân L1 diện tích 450m2, ông Huỳnh Ngọc T

250m2, bà Thái Thị Thanh T1 300m2.

hợp đồng tiếp từ hộ gia đình ông Đ cho các hộ ông L1, bà T1, ông T không thông qua các hộ gia đình đã được chuyển nhượng trước đó (hộ gia đình ông M, bà N1

H, bà T2

Đ

1

hợp đồng

Năm 2014, bà

X

L1) nhờ bà N

sang nhượng lại cho các hộ. Tuy nhiên, s

N

1, ông P

.

N

N

ông L1

P. [6]

Ủ

Đ

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 271921, ngày 14/7/2014, thửa đất số 47, tờ bản đồ số 96 diện tích 2803,5m2

N

, [7] Điều 100 [8] Trong

Ủy ban nhân dân huyện Đ N

N không

.

P và ông L1 [9]

Ủy ban nhân dân huyện ban hành Quyết định số 618/QĐ-UBND ngày 21/12/2016 về việc thu hồi Giấy chứng nhận N

.

N

n [11] N Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30

Căn cứ

Điều 106 Luật Đất đai năm 2013;

N;

bản án hành chính sơ thẩm số 03/2017/HC-ST ngày 06/7/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

1.

đơn khởi kiện của bà Phạm Thị N về yêu cầu hủy Quyết định số 618/QĐ-UBND ngày 21/12/2016 của Ủy ban nhân dân huyện Đ G

.

2.

bà Phạm Thị N

Kon Tum

3.

bà Phạm Thị N

Kon Tum.

4.

Cỡ chữ