vanban.org

Bản án 1449/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Lê Hoài Duy T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Lê Hoài Duy T được ly hôn với ông Nguyễn Phi L. (Giấy chứng nhận kết hôn số 115 do Ủy ban nhân dân Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/7/2003 cho bà Nguyễn Lê Hoài Duy T và ông Nguyễn Phi L không còn hiệu lực). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Lê Hoài Duy T.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1449/2022/HNGĐ – ST
Ngày: 13– 9 – 2022
V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Huệ

Ông Vũ Khánh Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thục Đoan - Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 828/2022/TLST – HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 338/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 273/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 24 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Lê Hoài Duy T, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số 618/17 đường Q, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Phi L, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số 618/17 đường Q, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Lê Hoài Duy T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Phi L có quen biết và tìm hiểu nhau. Đến năm 2003 thì tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 115, ngày 17 tháng 7 năm 2003.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2004 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do mâu thuẫn về kinh kế, ông L sống không có trách nhiệm với gia đình và nhiều lần cãi vã xô xát, nhưng vì con bà T đã cho ông L nhiều cơ hội để sửa đổi và hàn gắn nhưng vẫn không thay đổi, nhưng đến nay các con đã lớn và bà không còn sức chịu đựng. Nay, nhận thấy tình cảm dành cho ông L không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông L để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thụy Đông N, sinh ngày 26/4/2005 và Nguyễn L, sinh ngày 10/5/2008. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Phi L đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đến Tòa để làm bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông L vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên Tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Nguyễn Lê Hoài Duy T có đơn xin vắng mặt với lý do bận công việc đột xuất nên không thể tham gia phiên tòa được.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thụy Đông N, sinh ngày 26/4/2005 và Nguyễn L, sinh ngày 10/5/2008. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Phi L đã được tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập tham gia phiên tòa cùng với Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông L vẫn vắng mặt không có lý do.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng; xác minh thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ cũng như trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và đương sự chấp hành đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng các qui định tại Điều 70, Điều 71; Bị đơn chưa thực hiện đúng qui định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do đương sự xuất trình và Tòa án thu thập được: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Lê Hoài Duy T, án phí sơ thẩm thực hiện theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn bà Nguyễn Lê Hoài Duy T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Phi L, cư trú tại số 618/17 đường Q, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Phi L đã được tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập tham gia phiên tòa cùng với Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông L vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông L theo qui định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 115, ngày 17 tháng 7 năm 2003 do Ủy ban nhân dân Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Lê Hoài Duy T và ông Nguyễn Phi L đã có đủ cơ sở để kết luận quan hệ hôn nhân của bà T và ông L là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án, bà T xác định tình cảm dành cho ông L hiện nay không còn vì giữa hai bên đã xảy ra quá nhiều mâu thuẫn do ông L sống không có trách nhiệm với gia đình, ngoài ra còn mâu thuẫn về kinh tế. Vợ chồng không có sự tin tưởng, tôn trọng nhau, không có tiếng nói chung và ông L không còn quan tâm đến bà, bà và ông L đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Do đó, bà yêu cầu được ly hôn với ông L để ổn định cuộc sống.

Bị đơn ông Nguyễn Phi L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập đến Tòa để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng ông L vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử không ghi nhận được ý kiến của ông L. Tuy nhiên, trong trường hợp này cho thấy ông L không thực sự có thiện chí đoàn tụ với bà T. Do đó, xét thấy nếu có tiếp tục kéo dài cuộc sống hôn nhân giữa bà T và ông L cũng không thể đem lại hạnh phúc cho cả hai bên.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: mâu thuẫn giữa bà T và ông L đã thực sự trầm trọng, hạnh phúc gia đình không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Lê Hoài Duy T là có căn cứ để chấp nhận.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thụy Đông N, sinh ngày 26/4/2005 và Nguyễn L, sinh ngày 10/5/2008. Xét yêu cầu của bà T về việc bà yêu cầu giao 02 con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, bà không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử nhận thấy: theo lời khai của trẻ N, trẻ L có nguyện vọng được ở với mẹ là bà Nguyễn Lê Hoài Duy T, ngoài ra hiện nay trẻ N, trẻ L đang ở với bà, do đó để tránh sáo trộn cuộc sống sinh hoạt và ảnh hưởng tâm lý của trẻ. Vì vậy, bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung là hoàn toàn chính đáng, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho trẻ phát triển bình thường. Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T: giao 02 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về việc cấp dưỡng nuôi con:

Xét việc bà T tự nguyện nuôi trẻ N, trẻ L và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con đây là ý chí hoàn toàn tự nguyện của bà T. Căn cứ Điều 58 Luật Hôn nhân gia đình 2014 về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn, Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của bà T. Nhưng để đảm bảo cuộc sống và quyền lợi của trẻ sau này, bà T có quyền yêu cầu khởi kiện cấp dưỡng nuôi con bằng vụ kiện khác khi bà có yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ kiện khác.

.Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Luật phí và lệ phí năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 19, 51, 53, 56, 57, 58, 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 2 Điều 68 của Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Lê Hoài Duy T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Lê Hoài Duy T được ly hôn với ông Nguyễn Phi L.

(Giấy chứng nhận kết hôn số 115 do Ủy ban nhân dân Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/7/2003 cho bà Nguyễn Lê Hoài Duy T và ông Nguyễn Phi L không còn hiệu lực).

Về con chung: Giao 02 con chung tên là Nguyễn Thụy Đông N, sinh ngày 26/4/2005 và Nguyễn L, sinh ngày 10/5/2008 cho bà Nguyễn Lê Hoài Duy T trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở, tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con.

Trên cơ sở lợi ích của con, cha, mẹ, người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi cần thiết đương sự có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Lê Hoài Duy T phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2021/0048519 ngày 06/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

4.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án theo đúng quy định của pháp luật.

Cỡ chữ