vanban.org

Bản án 144/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Đào Duy H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2025.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay, màu đen, đã qua sử dụng; 01 áo thun nam ngắn tay, màu đen, đã qua sử dụng; 01 quần jean dài, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đôi dép loại xỏ ngón, qua dép màu xanh, đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu đỏ. Giao Thi hành án Dân sự TP Hồ Chí MinT4 tiếp tục thông b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Duy H - Cướp giật tài sản - cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đào Duy H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2025.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2026/HS-ST
Ngày: 24/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh Như

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Thanh Thu

Ông Nguyễn Văn Hồi

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 470/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2026/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

ĐÀO DUY H; sinh năm 1998 tại tỉnh Đăk Lăk; Căn cước công dân số 066098020062 cấp ngày 24/6/2022 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; G; Thường trú: số G đường N, xã K (thị trấn B, huyện K cũ), tỉnh Đăk Lăk; Nơi ở: Khu phố A, phường H, TP Hồ Chí Minh (thành phố B, tỉnh Bình Dương cũ); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Đào Duy T và bà Hồ Thị T1; Anh, chị em ruột: 02 (kể cả bị cáo); Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Không; Tiền sự: Năm 2022 bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, đến tháng 9/2024 chấp hành xong. Nhân thân: Bản án số 02/2015/HSST ngày 02/02/2015 của Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk xử phạt Đào Duy H 03 năm về tội “Cố ý gây thương tích”. Đến ngày 22/7/2017 chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/4/2025 đến nay tại Trại tạm giam C – Công an Thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1987 (vắng mặt)

CCCD số 079187000130 cấp ngày 22/11/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Địa chỉ: Số A đường V, Ấp A, xã B, huyện C (nay là xã B, TP Hồ Chí Minh).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Hà Quốc C, sinh năm 1979 (vắng mặt)

CCCD số 038079028457 cấp ngày 27/12/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Địa chỉ: Khu phố B, phường T, Thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường H, TP Hồ Chí Minh).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 ngày 19/4/2025, tại phòng số 3 của nhà trọ không số thuộc khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh) Đào Duy H sử dụng băng keo trong suốt để dán biển số bằng kim loại, nền trắng, chữ đen phía trên có ký tự “67D1-426.01” dán trước biển số của xe mô tô hiệu Sirius màu bạc, biển số 59T1-751.47 để che dấu biển số thật. Sau đó, H điều khiển xe mô tô có dán biển số trên theo đường đại lộ B hướng về cầu P để tìm các tiệm tạp hóa nhằm mục đích cướp giật tài sản là các thùng bia rồi đem đi bán lấy tiền tiêu xài. Khi qua cầu P, H điều khiển xe rẽ trái vào đường H sau đó rẽ phải vào đường V. Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 19/4/2025, H đi qua tiệm T2 địa chỉ 182 đường V, Ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh), Đào Duy H dừng xe trước tiệm tạp hóa N rồi nói “bán cho hai thùng bia Tiger”. Một lúc sau, bà Nguyễn Thị Ngọc N ôm 02 thùng bia hiệu Tiger loại 24 lon/thùng, mỗi lon có dung tích 330ml đặt xuống đất gần chỗ H. H nói “lấy thêm mười nghìn đá” thì bà N đến chỗ thùng xốp để lấy đá bỏ vào túi đựng. Trong lúc bà N lấy đá, Hoàng ôm 02 thùng bia Tiger lên ba ga xe mô tô đang dựng trước tiệm rồi nhanh chóng ngồi lên xe mô tô và mở máy xe tẩu thoát. Khi nghe thấy tiếng nổ máy xe thì bà N quay lại, truy hô và chạy tới chỗ H. H nhanh chóng tăng ga, điều khiển xe mô tô tẩu thoát về hướng đường H. Trong quá trình ngăn cản, bà N sử dụng tay trái nắm vào phía sau xe mô tô của H nhưng không được nên bị trượt ngã xuống mặt đường. Bà N bị 01 (một) vết trầy xước da bên trái trái và 01 (một) vết trầy xước tại cánh tay phải. Sau khi tẩu thoát, H ghé tiệm T3 thuộc khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương và gặp chủ tiệm là ông Hà Quốc C và bán 02 thùng bia với giá 300.000 đồng/thùng.

Kết luận giám định giá tài sản số 53/KL-HĐĐGTS ngày 29/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện C kết luận: 02 thùng bia mới hiệu Tiger nâu, loại 24 lon có dung tích 330ml có giá trị 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) (BL 44, 45).

Quá trình điều tra, Đào Duy Hoàng thành K khai báo, ăn năn hối cải.

Về thu giữ đồ vật, tài liệu:

Thu giữ của Đào Duy H (BL 57)

- 01 xe mô tô hiệu Sirius màu bạc, biển số 59T1-751.47, số máy 1FC3118981, số khung RLCD1FC30FY118972, đã qua sử dụng. Kết luận giám định số 3587/KL-KTHS ngày 06/8/2025 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận số khung, số máy nguyên thủy, không bị đục lại số. Kết quả xác minh xe 59T1-751.47 có số khung, số máy như trên do bà Nguyễn Lê Kim N1 đứng tên đăng ký đối với xe Yamaha sirius, bà N1 đã bán xe trên cho người không rõ lai lịch và chưa đăng ký thủ tục sang tên. Cơ quan điều tra đã ban hành thông báo truy tìm chủ sở hữu đối với xe mô tô 59T1-751.47 nhưng chưa có tổ chức, cá nhân liên hệ để xử lý.

- 01 biển số xe mô tô bằng kim loại, nền trăn, chữ màu đen, có ký tự “67-D1 426.01”, đã qua sử dụng; Kết quả xác minh biển số 67D1- 426.01 là của xe mô tô Blade do ông Trần Thanh P (sinh ngày 01/01/1971; Nơi thường trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang) đứng tên chủ sở hữu, ông P xác định đã bán xe có biển số trên nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Cơ quan điều tra đã ban hành thông báo truy tìm chủ sở hữu đối với biển số xe mô tô 67D1- 426.01 nhưng chưa có tổ chức, cá nhân liên hệ để xử lý.

- 01 áo sơ mi dài tay, màu đen, đã qua sử dụng; 01 áo thun nam ngắn tay, màu đen, đã qua sử dụng; 01 quần jean dài, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đôi dép loại xỏ ngón, qua dép màu xanh, đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu đỏ.

Thu giữ của ông Hà Quốc C (BL 48):

- 02 thùng bia loại Tiger 24 lon, dung tích 330ml. Cơ quan điều tra đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng G5099/QĐ-CSHS ngày 21/8/2025, trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Ngọc N.

Về dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Ngọc N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu Đào Duy H bồi thường thêm phần trách nhiệm dân sự. Về thương tích của chị N trong quá trình truy đuổi H, N không yêu cầu giám định và không có yêu cầu về vấn đề này. Ngoài ra, N còn có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Đào Duy H. Ông Hà Quốc C đã được Đào Duy H trả lại số tiền 600.000 đồng nên không yêu cầu thêm phần trách nhiệm dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 133/CT-VKSKV8 ngày 31/12/2025, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử bị cáo Đào Duy H về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) (gọi tắt là Bộ luật hình sự).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – TP Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi của bị cáo đối với bị hại và đối với xã hội đồng thời nêu lên tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Đào Duy H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Duy H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

- Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị:

+ 01 xe mô tô hiệu Sirius màu bạc, biển số 59T1-751.47, số máy 1FC3118981, số khung RLCD1FC30FY118972, đã qua sử dụng: xử lý theo quy định.

+ 01 biển số xe mô tô bằng kim loại, nền trăn, chữ màu đen, có ký tự “67-D1 426.01”, đã qua sử dụng: xử lý theo quy định.

+ 01 áo sơ mi dài tay, màu đen, đã qua sử dụng; 01 áo thun nam ngắn tay, màu đen, đã qua sử dụng; 01 quần jean dài, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đôi dép loại xỏ ngón, qua dép màu xanh, đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu đỏ: tịch thu tiêu hủy.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt và việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16 giờ 00 ngày 19/4/2025 tại tiệm T2 địa chỉ số A đường V thuộc ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh), Đào Duy H sử dụng xe mô tô Sirius màu bạc hỏi mua 02 thùng bia loại Tiger 24 lon, dung tích 330ml của bà Nguyễn Thị Ngọc N. Sau khi bà N đặt 02 thùng bia xuống đất, Đào Duy H đã ôm 02 thùng bia Tiger lên ba ga xe mô tô, nhanh chóng ngồi lên xe mô tô và mở máy xe tẩu thoát. H mang 02 thùng bia bán lại với giá 600.000 đồng. Kết luận giám định giá tài sản số 53/KL-HĐĐGTS ngày 29/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện C kết luận: 02 thùng bia mới hiệu Tiger nâu, loại 24 lon có dung tích 330ml có giá trị 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng).

Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định hành vi nêu trên của bị cáo Đào Duy H đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo Đào Duy H theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, nên buộc bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.

Lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của bị hại, bị cáo Đào Duy H đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng, tác động xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã nổ máy chờ sẵn, sau khi lấy được bia là tăng ga bỏ chạy. Việc phóng xe tốc độ cao sau khi cướp giật trong khu vực dân cư (đường V) để tẩu thoát được xem là thủ đoạn nguy hiểm, có thể gây tai nạn cho nạn nhân hoặc người đi đường, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, từng có 01 tiền án về tội "Cố ý gây thương tích" (đã chấp hành xong năm 2017) và từng bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định, các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe phòng ngừa đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo H, Hội đồng xét xử có xem xét:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với ông Hà Quốc C mua 02 thùng bia loại Tiger 24 lon, dung tích 330ml của Đào Duy H nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Ngọc N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu Đào Duy H bồi thường thêm phần trách nhiệm dân sự. Về thương tích của chị N trong quá trình truy đuổi H, N không yêu cầu giám định và không có yêu cầu về vấn đề này. Ngoài ra, N còn có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Đào Duy H. Ông Hà Quốc C đã được Đào Duy H trả lại số tiền 600.000 đồng nên không yêu cầu thêm phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về dân sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

01 xe mô tô hiệu Sirius màu bạc, biển số 59T1-751.47, số máy 1FC3118981, số khung RLCD1FC30FY118972, đã qua sử dụng. Kết luận giám định số 3587/KL-KTHS ngày 06/8/2025 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận số khung, số máy nguyên thủy, không bị đục lại số. Kết quả xác minh xe 59T1-751.47 có số khung, số máy như trên do bà Nguyễn Lê Kim N1 đứng tên đăng ký đối với xe Yamaha sirius, bà N1 đã bán xe trên cho người không rõ lai lịch và chưa đăng ký thủ tục sang tên. Cơ quan điều tra đã ban hành thông báo truy tìm chủ sở hữu đối với xe mô tô 59T1-751.47 nhưng chưa có tổ chức, cá nhân liên hệ để xử lý. Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 4 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định giao Thi hành án Dân sự T4 tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu, nếu quá thời hạn không ai đến nhận thì tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước

01 biển số xe mô tô bằng kim loại, nền trăn, chữ màu đen, có ký tự “67-D1 426.01”, đã qua sử dụng; Kết quả xác minh biển số 67D1- 426.01 là của xe mô tô Blade do ông Trần Thanh P (Sinh ngày 01/01/1971; Nơi thường trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang) đứng tên chủ sở hữu, ông P xác định đã bán xe có biển số trên nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Cơ quan điều tra đã ban hành thông báo truy tìm chủ sở hữu đối với biển số xe mô tô 67D1- 426.01 nhưng chưa có tổ chức, cá nhân liên hệ để xử lý. Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 4 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định giao Thi hành án Dân sự T4 tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu, nếu quá thời hạn không ai đến nhận thì tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước

01 áo sơ mi dài tay, màu đen, đã qua sử dụng; 01 áo thun nam ngắn tay, màu đen, đã qua sử dụng; 01 quần jean dài, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đôi dép loại xỏ ngón, qua dép màu xanh, đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu đỏ: là trang phục Hoàng mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

02 thùng bia loại Tiger 24 lon, dung tích 330ml. Cơ quan điều tra đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng G5099/QĐ-CSHS ngày 21/8/2025, trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Ngọc N: Hội đồng xét xử nhận thấy việc trả lại là phù hợp với quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên tại phiên tòa hôm nay không xem xét lại.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Đào Duy H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2025.

2. Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 và khoản 3, khoản 4 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay, màu đen, đã qua sử dụng; 01 áo thun nam ngắn tay, màu đen, đã qua sử dụng; 01 quần jean dài, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đôi dép loại xỏ ngón, qua dép màu xanh, đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu đỏ.

Giao Thi hành án Dân sự TP Hồ Chí MinT4 tiếp tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để truy tìm chủ sở hữu đối với:

+ 01 xe mô tô hiệu Sirius màu bạc, biển số 59T1-751.47, số máy 1FC3118981, số khung RLCD1FC30FY118972, đã qua sử dụng;

+ 01 biển số xe mô tô bằng kim loại, nền trắng, chữ màu đen, có ký tự “67-D1 426.01”, đã qua sử dụng;

Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày thông báo, nếu có người xuất trình đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh là chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại cho họ. Sau 12 tháng kể từ ngày thông báo mà không xác định được ai là chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

(Vật chứng được ghi theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/3/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an T và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 – TP Hồ Chí Minh).

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025):

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

5. Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ