vanban.org

Bản án 144/2026/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xác định anh Bùi Văn H, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ dân phố 11, phường Bạch Đằng, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của con do chị Lê Thị Ngọc T sinh ra, dự định đặt tên con là Bùi B, sinh ngày 26/07/2022 theo Giấy chứng sinh số 0740/2022/BVTN-GCS quyển số GCS/22T ngày 26/07/2022 c…

Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Ngọc T, anh Bùi Văn H, anh Đặng Ngọc H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc bản án được niêm yết. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho các đương sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha con T-H"
  • Tòa quyết gì? Xác định anh Bùi Văn H, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ dân phố 11, phường Bạch Đằng, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của con do chị Lê Thị Ngọc T sinh ra, dự định đặt tên con là Bùi B, sinh ngày 26/07/2022 theo Giấy chứng sinh số 0740/2022/BVTN-GCS quyển số GCS/22T ngày 26/07/2022 c…
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2026/HNGĐ-ST
Ngày 03-06-2026
V/v tranh chấp về xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒAÁN NHÂN DÂNKHUVỰC1-HẢIPHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đức Khoa

Ông Phạm Văn Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thế Duyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2026/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2026 về tranh chấp về xác định cha con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc T, sinh năm 1997; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi đăng ký HKTT: Thôn Hà Lạc, xã Đan Điền, thành phố Huế; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố 5, phường Bạch Đằng, thành phố Hải Phòng; có mặt

- Bị đơn: Anh Bùi Văn H, sinh năm 1991; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Tổ dân phố 11, phường Bạch Đằng, thành phố Hải Phòng; có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Ngọc H, sinh năm 1994; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Thôn Hà Lạc, xã Đan Điền, thành phố Huế; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 26 tháng 02 năm 2026 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc T trình bày:

Chị Lê Thị Ngọc T và anh Bùi Văn H quen nhau và nảy sinh tình cảm vào năm 2021. Trong thời gian hai bên có quan hệ tình cảm chị T đã có chồng là anh Đặng Ngọc H, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn Hà Lạc, xã Đan Điền, thành phố Huế nhưng chị không nói cho anh H biết. Do mâu thuẫn vợ chồng, chị T và anh H đã sống ly thân nhau từ năm 2019 đến năm 2025 thì ly hôn theo Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Huế. Chị và anh H đã có quan hệ tình cảm dẫn đến việc chị mang thai và sinh một con trai vào ngày 26/07/2022, dự định đặt tên là Bùi B theo Giấy chứng sinh số 0740 quyển số GCS/22T ngày 26/07/2022 của Bệnh viện đa khoa Thuỷ Nguyên. Để đảm bảo quyền lợi cho con, chị T đề nghị Tòa án xác định anh Bùi Văn H là cha đẻ của con do chị sinh ra ngày 26/07/2022, dự định đặt tên là Bùi B. Do bận công việc nên chị Lê Thị Ngọc T đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

Tại Bản tự khai ngày 05 tháng 03 năm 2026 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Bùi Văn H trình bày:

Anh Bùi Văn H và chị Lê Thị Ngọc T quen nhau và nảy sinh tình cảm từ năm 2021. Trong thời gian quen biết, có quan hệ tình cảm chị T đã mang thai và sinh 01 con trai vào ngày 26/07/2022, dự định đặt tên là Bùi B theo Giấy chứng sinh số 0740 quyển số GCS/22T ngày 26/07/2022 của Bệnh viện đa khoa Thuỷ Nguyên. Để đảm bảo quyền lợi cho con, anh H đồng ý với yêu cầu của chị T, đề nghị Tòa án xác định anh là cha đẻ của cháu bé do chị Lê Thị Ngọc T sinh ra ngày 26/07/2022, dự định đặt tên là Bùi B. Do bận công việc nên anh Bùi Văn H đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đặng Ngọc H có lời khai thể hiện: Anh và chị Lê Thị Ngọc T đã ly hôn, hiện không còn liên quan gì đến nhau. Anh và chị T có 01 con chung là cháu Đặng Lê Ngọc Khải, sinh ngày 13/10/2018. Cháu bé do chị T sinh ra ngày 26/7/2022, dự định đặt tên là Bùi B không có liên quan gì đến anh H. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định và xin được vắng mặt tại phiên toà.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91, Điều 101, Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định anh Bùi Văn H là cha đẻ của con do chị Lê Thị Ngọc T sinh ra ngày 26/07/2022 dự định đặt tên là Bùi B theo Giấy chứng sinh số 0740 quyển số GCS/22T ngày 26/07/2022 của Bệnh viện đa khoa Thuỷ Nguyên.

Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm: Căn cước công dân (bản sao); Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 29/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Huế (bản sao); Kết luận giám định số 879/KL-KTHS ngày 05/03/2026 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng; xác nhận thông tin về cư trú, bản sao Giấy chứng sinh số 0740/2022/BVTN-GCS quyển số GCS/22T ngày 26/07/2022 của Bệnh viện đa khoa Thuỷ Nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về xác định cha cho con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn là anh Bùi Văn H có nơi cư trú tại phường Bạch Đằng, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu xác định cha cho con của nguyên đơn: Lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất nội dung anh Bùi Văn H là cha đẻ của con do chị Lê Thị Ngọc T sinh ra dự định đặt tên là Bùi B, sinh ngày 26/07/2022 theo Giấy chứng sinh số 0740/2022/BVTN-GCS quyển số GCS/22T ngày 26/07/2022 của của Bệnh viện đa khoa Thuỷ Nguyên. Tại Kết luận giám định số 879/KL-KTHS ngày 05/03/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng đã kết luận: Anh Bùi Văn H và cháu Bùi B có quan hệ huyết thống trực hệ cha con (Độ tin cậy P1>99,99%). Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xác định anh Bùi Văn H là cha đẻ của con do chị Lê Thị Ngọc T sinh ra, dự định đặt tên con là Bùi B, sinh ngày 26/07/2022 là phù hợp với các Điều 88, 91, 101 và Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đương sự được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Xác định anh Bùi Văn H, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ dân phố 11, phường Bạch Đằng, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của con do chị Lê Thị Ngọc T sinh ra, dự định đặt tên con là Bùi B, sinh ngày 26/07/2022 theo Giấy chứng sinh số 0740/2022/BVTN-GCS quyển số GCS/22T ngày 26/07/2022 của Bệnh viện đa khoa Thuỷ Nguyên

2. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Ngọc T, anh Bùi Văn H, anh Đặng Ngọc H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc bản án được niêm yết.

3. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho các đương sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ