- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Văn Q - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Văn Q phaïm toäi “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 144/2024/HS-ST Ngày: 22-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Công Danh – Cán bộ hưu trí.
2. Ông Phan Anh Dũng – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 145/2024/HSST-QĐ ngày 23 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Văn Q, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1993, tại: Bình Dương; Nơi thường trú: Ấp B, xã An Lập, huyện D, tỉnh Bình Dương; Nơi cư trú hiện nay: Đường D11, khu công nghiệp B, huyện B, tỉnh Bình Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Họ tên cha: Mai Văn Cường, sinh năm 1968 (đã chết); Họ tên mẹ: Huỳnh Thị Lan, sinh năm 1972 (còn sống); Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 03 anh em; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Quy Bơ, sinh năm 1994; Có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 16/3/2016, bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương xử phạt 10 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo bản án số 12/2016/HSST. Ngày 25/8/2016, Q chấp hành xong án phạt tù. Bị cáo bị bắt ngày 30/9/2023 theo Quyết định truy nã số 32/QĐTN-ĐTTH ngày 15/3/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị giam giữ tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. (Bị cáo có mặt).
* Bị hại: Chị Hồ L, sinh năm: 2001
Địa chỉ: Hẻm 1034, khu phố 1, phường T, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trương T, sinh năm: 1990
Thường trú: xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.
Hiện đang chấp hành án tại: Trại giam Xuân Lộc – Bộ Công an. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trương T rủ Mai Văn Q thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, vào khoảng 11 giờ ngày 14/12/2021, Mai Văn Q dùng xe mô tô YAMAHA Exciter BS: 61H1-445.03 chở Trương T đi từ nhà trọ tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương qua địa phận phường Bửu Long, thành phố B để tìm tài sản có sở hở trộm cắp. Cả hai mang theo 01 kìm bấm trợ lực khí nén, 01 kìm nhỏ, 01 bình hơi cay và 02 đoản sắt phá khóa bằng kim loại. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Q và Tâm đi vào dãy phòng trọ ở tổ 25, khu phố 4, phường Bửu Long, thành phố B thì phát hiện không có người. Tại đây, Q đã trực tiếp sử dụng kìm bấm có trợ lực bằng khí nén cắt phá bỏ ổ khóa phòng trọ số 24, tổ 25, khu phố 4, phường Bửu Long, thành phố B do chị Hồ L, sinh năm 2001 thuê trọ đã đi vắng. Sau đó, Tâm đột nhập vào lấy trộm xe mô tô biển số 37H1-140.95 nhãn hiệu Hondo Wave Anpha màu đỏ - đen của chị Lâm dựng tại trong phòng có chìa khóa để sẵn ở xe. Sau khi lấy trộm, Q và Tâm chạy xe đến quán cà phê gần ngã tư 550, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bán cho 01 người tên Tí (không rõ lai lịch) với số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng chẵn). Tâm chia cho Q số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng) còn Tâm giữ lại 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng). Đến chiều cùng ngày chị Lâm phát hiện mất trộm xe đã trình báo công an phường Bửu Long.
Đến ngày 17/12/2021, Q tiếp tục dùng xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter BS: 61H1-445.03 chở Tâm và mang theo giỏ đựng kìm, đoản phá khóa, bình xịt hơi cay đến khu vực phường Bửu Long, thành phố B với mục đích tìm tài sản sơ hở để trộm cắp thì bị lực lượng tuần tra Công an phường Bửu Long mời Q và Tâm về trụ sở Công an phường để làm việc, tại đây Tâm và Q đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Tại trụ sở Công an phường Bửu Long, lợi dụng sơ hở, Mai Văn Q đã bỏ trốn; Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã ra quyết định khởi tố vụ án; khởi tố bị can và quyết định truy nã đối với Mai Văn Q
Ngày 19/4/2022, Trương T đã bị Tòa án nhân dân thành phố B xét xử về tội trộm cắp tài sản nêu trên theo bản án số 157/2022/HS-ST.
Ngày 30/9/2023, Mai Văn Q đã bị bắt theo lệnh truy nã.
* Vật chứng của vụ án gồm:
- 01 ba lô màu đen; 01 kìm bấm trợ lực khí nén, màu đỏ, đen dài 35cm; 01 bình xịt hơi cay màu xanh loại 110ml; 01 kìm cầm tay màu đỏ đen; 02 đoản phá khoá dài 05cm (Đã tuyên tịch thu tiêu huỷ theo bản án số 157/2022/HS-ST ngày 19/4/2022).
- Đối với xe mô tô 37H1-140.95 nhãn hiệu Hondo Wave Anpha màu đỏ
- đen không thu hồi được do đối tượng Tâm và Q đã bán cho đối tượng tên Tí (không rõ nhân thân lai lịch).
- 01 xe mô tô YAMAHA Exciter BS: 61H1-445.03, số máy: 55P1-46834, số khung: RLCESSP10E460823. Qua xác minh biển số thì do Mai Văn Q đứng tên, con số khung, số máy thì không tìm thấy dữ liệu chủ sơ hữu, nên tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Tại kết luận định giá số 135 ngày 05/4/2021 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố B xác định: xe mô tô biển số 37H1-140.95 nhãn hiệu Hondo Wave Anpha màu đỏ - đen, có giá trị 8.160.000đ (Tám triệu một năm sáu mươi nghìn đồng).
Trong quá trình điều tra bị cáo đã nhận tội theo như nội dung cáo trạng mô tả và không có ý kiến hay khiếu nại gì. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo.
Tại Bản cáo trạng số 54/CT-VKSBH ngày 11 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Mai Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Mai Văn Q mức án từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù.
Đối với đối tượng tên Tí mua xe mô tô biển số 37H1-140.95 nhưng không rõ nhân thân, lai lịch nên tiếp tục xác minh xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Tại bản án số 157/2022/HS-ST ngày 19/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố B đã buộc bị cáo Trương T phải bồi thường cho bị hại là chị Hồ L số tiền 8.160.000đ (Tám triệu một năm sáu mươi nghìn đồng); chị Lâm không có yêu cầu gì thêm đối với Q, bị cáo Trương T không yêu cầu Q bồi hoàn lại nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về vật chứng của vụ án cũng đã được xử lý theo bản án số 157/2022/HS-ST ngày 19/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố B nên không xem xét, giải quyết.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết lỗi và rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án: Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng khác và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Mai Văn Q đã khai nhận: Vào khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 14/12/2021 Mai Văn Q và Trương T đã có hành vi trộm cắp 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 37H1-140.95 nhãn hiệu Hondo Wave Anpha màu đỏ - đen của chị Hồ L, tổng trị giá tài sản trộm cắp là 8.160.000đ (Tám triệu một năm sáu mươi nghìn đồng) thì bị bắt giữ, khởi tố để điều tra xử lý.
Lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Mai Văn Q phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như nội dung bản cáo trạng số 54/CT-VKSBH ngày 11 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự, trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Ngày 16/3/2016, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương xử phạt 10 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo bản án số 12/2016/HSST nhưng bị cáo không biết lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục cố ý thực hiện tội phạm.
Về vai trò của bị cáo trong vụ án này, bị cáo Tâm là chủ mưu rủ bị cáo Q thực hiện hành vi phạm tội, khi được Tâm rủ thì Q cũng đã tích cực chở Tâm đi và trực tiếp cắt khóa phòng trọ của chị Lâm để cùng Tâm thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo Tâm. Tuy nhiên, khi bị Công an phường Bửu Long bắt giữ, bị cáo Q đã bỏ trốn và bị bắt theo Quyết định truy nã. Do đó, bị cáo phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về tình tiết tăng nặng: Không có;
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ Luật hình sự;
Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý theo bản án số 157/2022/HS-ST ngày 19/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố B nên không xem xét, giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Tại bản án số 157/2022/HS-ST ngày 19/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố B đã buộc bị cáo Trương T phải bồi thường cho bị hại là chị Hồ L số tiền 8.160.000đ (Tám triệu một năm sáu mươi nghìn đồng); chị Lâm không có yêu cầu gì thêm đối với Q, bị cáo Trương T không yêu cầu Q bồi hoàn lại nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Đối với đối tượng tên Tí mua xe mô tô biển số 37H1-140.95 nhưng không rõ nhân thân, lai lịch nên tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Mai Văn Q phaïm toäi “Trộm cắp tài sản”;
Xöû phaït bị cáo Mai Văn Q mức án: 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2023.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Đồng Nai (1); - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1); - Viện kiểm sát nhân dân TP. B (2); - Công an TP. B (2); - Thi hành án hình sự (5); - Bị cáo, đương sự (03); - Lưu VP - Hồ sơ vụ án (3). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hoàng Phương |