- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN ÁN HNGDST T - D"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đỗ Thị T
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:144/2024/HNGĐ-ST Ngày:16-7-2024 V/v tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thành Trại
Ông Nguyễn Minh Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Huệ- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Trà My -Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 66/2024/TLST-HN ngày 31 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, Tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1991;
Địa chỉ: ấp TP 1, xã TLĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1987;
Địa chi: ấp TP 1, xã TLĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.
(Các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Chị và anh D quen biết, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TLĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 77, ngày 16/8/2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, cuộc sống không hòa hợp về nhiều mặt, đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Từ hè năm 2023 khoảng tháng 8 chị dẫn 02 con về nhà mẹ ruột sinh sống tại ấp Lộ Xe, xã Vĩnh Lộc A, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu. Ly thân từ tháng 12/2023 cho đến nay, mạnh ai người nấy sống không còn quan tâm nhau. Do tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài.
Nay yêu cầu Tòa án giải quyết:
-Về hôn nhân: Cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
-Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Quốc C, sinh ngày 19/6/2016 và Nguyễn Huỳnh N Y, sinh ngày 18/10/2018, chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
- Về cấp dưỡng: Không yêu cầu.
-Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
-Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn trình bày: Anh không đồng ý ly hôn do còn thương vợ con, anh cam kết với vợ tất cả những vấn đề mà vợ yêu cầu chỉ xin vợ hàn gắn lại, anh có thời gian chăm sóc con khi vợ đi làm thành phố cuối tuần mới về với 02 con. Trường hợp toà cho ly hôn anh xin được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung bé C hoặc bé Y, do bé C có nguyện vọng sống với mẹ nên anh muốn nuôi bé Y, không yêu cầu cấp dưỡng, Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và tiếp tục trực tiếp nuôi con, về cấp dưỡng không yêu cầu, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và có ý kiến đồng ý ly hôn, về con chung anh đồng ý để 02 con cho chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, về cấp dưỡng không yêu cầu, về tài sản chung: không yêu cầu Toà án giải quyết, về nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các thủ tục tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án, đề nghị:
+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đỗ Thị T, chị Đỗ Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
+ Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Quốc C, sinh ngày 19/6/2016 và Nguyễn Huỳnh N Y, sinh ngày 18/10/2018, chị T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Anh Nguyễn Văn D được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
+ Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu, nên không xem xét.
+ Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
+ Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Đỗ Thị T yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh Nguyễn Văn D nên đây là “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh D có nơi cư trú tại ấp TP 1, xã TLĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt chị T, anh D.
Về hôn nhân:
Chị và anh D quen biết, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TLĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 77, ngày 16/8/2016 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Chị T cho rằng: Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, cuộc sống không hòa hợp về nhiều mặt, đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Từ hè năm 2023 khoảng tháng 8 chị dẫn 02 con về nhà mẹ ruột sinh sống tại ấp Lộ Xe, xã Vĩnh Lộc A, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu. Ly thân từ tháng 12/2023 cho đến nay, mạnh ai người nấy sống không còn quan tâm nhau. Do tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, chị khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
Thấy rằng, giữa anh chị không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nên cần xác định tình trạng mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, theo đơn xin vắng mặt anh D có ý kiến đồng ý ly hôn. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Quốc C, sinh ngày 19/6/2016 và Nguyễn Huỳnh N Y, sinh ngày 18/10/2018, chị T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Hiện các cháu đang sống với chị T để tạo điều kiện thuận lợi, đảm bảo cho sự phát triển bình thường của các cháu, phù hợp với nguyện vọng của cháu Cường là muốn sống cùng với mẹ, tại đơn xin vắng mặt anh D đồng ý để chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị T. Nếu sau này chị T và anh D có thay đổi hoàn cảnh và có tranh chấp về việc nuôi dưỡng con chung sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
+ Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị T và anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị T và anh D khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 53; Điều 56, Điều 58; khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đỗ Thị T
1. Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn D
2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Quốc C, sinh ngày 19/6/2016 và Nguyễn Huỳnh N Y, sinh ngày 18/10/2018, cho chị T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Anh Nguyễn Văn D được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Không yêu cầu.
3. Về án phí: Chị Đỗ Thị T chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010912 ngày 29/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, nên xem như nộp xong.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Đỗ Thị T, bị đơn anh Nguyễn Văn D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - UBND xã; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Đỗ Thị Hồng Quyên |