- Tranh chấp gì? án hình sự — "Âu Đình L - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Âu Đình L phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _____________ Bản án số: 144/2023/HSST Ngày 20/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thùy Phương
Ông Nguyễn Quang Tuyến
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hòa, thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Phụng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 148/2023/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2023/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 7 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 09 ngày 17/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, đối với bị cáo:
Âu Đình L , sinh năm 2001; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn B, xã H, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Con ông Âu Đình Khoa và con bà Lường Thị Hợp; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ, con: Chưa có.
- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tam giam từ ngày 08/4/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt tại phiên tòa)
* Người bị hại: Chị Hồ Thị Thu H, sinh năm 2002 (Vắng mặt)
HKTT: Thôn Kh, xã Hường Hiệp, huyện Đa Krông, tỉnh Quảng Trị.
Hiện tạm trú: Khu Giang Liễu, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh
Bắc Ninh
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ng, phường Kim Chân, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
2. Anh Âu Đình Ph, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Địa chỉ: bản Đ, xã H, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/4/2023, Công an thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh nhận được đơn trình báo của chị Hồ Thị Thu H, sinh năm 2002, HKTT: thôn Kh, xã Hướng Hiệp, huyện Đa Krông, tỉnh Quảng Trị về việc: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 22/3/2023, tại khu vực để xe của công ty Jaeyoung Vina thuộc khu Giang Liễu, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, chị H phát hiện bị kẻ gian đột nhập trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen BKS 74K1-093.62.
Ngay sau khi tiếp nhận đơn trình báo của bị hại, Cơ quan điều tra tiến hành các biện pháp nghiệp vụ triệu tập đối tượng Âu Đình L , sinh năm: 2001, HKTT: thôn B, xã Chợ Mục, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn hiện đang ở trọ tại khu phố Mao Dộc, phường Phượng Mao, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh để xác minh làm rõ. Cùng ngày 08/4/2023, L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Quế Võ đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:
L là bạn làm cùng công ty với chị H tại công ty Jaeyoung Vina. Do nhiều lần đi làm cùng nhau nên L biết chị H điều khiển xe mô tô Honda Airblade, màu đen BKS 74K1-093.62 đến gửi ở khu vực để xe của công ty Jaeyoung Vina và cất vé gửi xe trong cốp. Khoảng 22 giờ ngày 21/3/2022, L đến phòng trọ của chị H chơi thì thấy 01 chìa khoá xe để trên bàn nên nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô của chị H để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Lúc này, L cầm lấy chìa khoá xe của chị H giấu vào túi quần đang mặc rồi đi về phòng trọ của mình. Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 22/3/2023, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen BKS 97B2-131.21 của L đến khu vực để xe của công ty Jaeyoung Vina rồi để xe tại đó. Sau đó, L đi bộ quanh khu vực để xe và phát hiện xe của chị Hoài, quan sát xung quanh không có ai nên L tiến lại gần rồi dùng chiếc chìa khoá xe đã cất giấu trước đó để mở khoá xe thì mở được cốp xe. L lấy 01 vé gửi xe ở trong cốp, cầm trên tay rồi nổ máy điều khiển xe ra khu vực bảo vệ để đưa vé xe rồi ra khỏi công ty đi về hướng Khu công nghiệp Quang Châu ở huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Tại đây, L vào cửa hàng sửa chữa xe máy của anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990 ở thôn Đồng Lớn, xã Quang Châu, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang để bán xe. L nói dối là xe chính chủ của bản thân và để giấy tờ ở nhà nên anh Tuyến đồng ý mua xe với giá 11.000.000 đồng. Sau khi bán được xe, L bắt taxi đi về phòng trọ nhờ chị Lê Thị Luyến, sinh năm 2001, HKTT: thôn Khe Qué, xã Viễn Sơn, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đưa đến công ty để lấy xe mô tô của L . Số tiền bán xe L đã tiêu sài cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐ ĐGTS ngày 10/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Quế Võ kết luận: “01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen, BKS 74K1-093.62 có giá 40.000.000 đồng”.
* Về phần dân sự
Ngày 14/4/2023, anh Âu Đình Ph, sinh năm 1990, HKTT: thôn B, xã Hoà Mục, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (anh ruột của L ) đã bồi thường cho chị H số tiền 40.000.000 đồng. Chị H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu L phải bồi thường gì thêm.
Anh Phong không yêu cầu L phải trả lại số tiền trên.
Tại cơ quan điều tra, Âu Đình L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 111/CT-VKSQV ngày 28/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ truy tố Âu Đình L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Âu Đình L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Âu Đình L từ 18 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Quế Võ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định cuả Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định cuả Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nội dung vụ án đã thể hiện rõ: Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 22/3/2023, tại khu vực để xe công ty Jaeyoung Vina có địa chỉ tại khu phố Giang Liễu, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Âu Đình L có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen, BKS 74K1-093.62 trị giá 40.000.000 đồng của chị Hồ Thị Thu H. Hiện, tài sản chưa thu hồi được.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận Âu Đình L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành nhưng không chịu lao động mà muốn chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác để thỏa mãn nhu cầu của mình. Hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, vì mục đích vụ lợi.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản bị cáo chiếm đoạt tuy chưa thu hồi được nhưng bị cáo đã tác động đến gia đình để bồi thường toàn bộ giá trị chiếc xe cho người bị hại. Người bị hại xác nhận đã nhận đủ số tiền bồi thường. Ngoài ra, ông nội bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b,i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên khi lượng hình Hội đồng xét xử cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Âu Đình L có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/QN-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xét bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương, gia đình cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo còn trẻ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo không có công việc ổn định và không có tài sản tích lũy, chưa có gia đình riêng nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Chị H đã nhận đủ số tiền bồi thường và không có yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Anh Âu Đình Ph tự nguyện bỏ tiền ra để bồi thường cho bị cáo. Anh Phong không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này nên không đặt ra giải quyết.
- Đối với anh Nguyễn Văn T là người đã mua chiếc xe của L ngày 22/3/2023. Quá trình điều tra xác định anh Tuyến không biết chiếc xe trên là do phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ không xử lý mà nhắc nhở đối với anh Tuyến là phù hợp.
- Đối với chiếc xe Honda Airblade, màu đen BKS 74K1-093.62 của chị Hoài. Quá trình điều tra xác định, anh Tuyến đã bán chiếc xe trên cho một người đàn ông không quen biết, anh Tuyến không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ đã truy tìm nhưng chưa thu hồi được, khi nào thu hồi được sẽ xử lý sau.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiện Yamaha Exciter màu đen BKS 97B2-131.21, L sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp. Quá trình điều tra xác định, L đã bán chiếc xe trên cho một người đàn ông không quen biết, L không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ đã truy tìm nhưng chưa thu hồi được, khi nào thu hồi được sẽ xử lý sau.
- Đối với chị Lê Thị Luyến (là bạn gái của L ) không biết về hành vi trộm cắp của L nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ không xử lý mà nhắc nhở đối với chị Luyến là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Âu Đình L phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 328 bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Âu Đình L 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Âu Đình L cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68; Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Âu Đình L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh, VKS tỉnh Bắc Ninh; - Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh; - Sở Tư pháp Bắc Ninh; - Viện kiểm sát, Công an thị xã Quế Võ; - Thi hành án thị xã Quế Võ; - Bị cáo, những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Liên |