- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Mạnh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 144/2023/HS-ST Ngày: 26 – 5 – 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐTHUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Túy Phƣợng.
2/ Bà Trần Ngọc Phƣơng.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 108/2023/TLST- HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 116/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Mạnh T (tên gọi khác: H), sinh năm 1980 tại tỉnh Hậu Giang; nơi thƣờng trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông S, sinh năm 1940 (đã chết) và bà G, sinh năm 1951; Bị can có 03 ngƣời anh, lớn nhất sinh năm 1969, nhỏ nhất sinh năm 1977, bị cáo chƣa có vợ, con;
Tiền án:
Ngày 02/11/2018 bị Toà án nhân dân Quận X, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 133/2018/HSST. Chấp hành án phạt tù xong ngày 21/10/2019; chấp hành xong bản án.
Ngày 25/3/2021 bị Toà án nhân dân thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 109/2021/HSST. Chấp hành án phạt tù xong ngày 04/10/2022.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 27/8/2010 bị Toà án nhân dân huyện (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 199/2010/HSST, đã chấp hành xong bản án ngày 16/4/2011.
Ngày 27/02/2013 bị Toà án nhân dân quận (nay là thành phố) Thủ Đức xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản theo Bản án số 37/2013/HSST, đã chấp hành xong bản án ngày 26/4/2014.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19 tháng 12 năm 2022 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà T, sinh năm 1978; nơi cƣ trú: khu phố H, phƣờng Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà H, sinh năm 1980; nơi cƣ trú: phƣờng T, quận H, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
- Ngƣời tham gia tố tụng khác:
Ngƣời làm chứng:
Ông T, vắng mặt.
Ông H, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 19/12/2022, Lê Mạnh T điều khiển xe mô tô hiệu Attila, biển số 29U9-3634 đi từ chợ đầu mối Thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh về hƣớng tỉnh Bình Dƣơng để tìm phòng trọ và tìm việc làm. Khi đến đoạn đƣờng C, phƣờng H thì T thấy 01 tiệm tạp hoá địa chỉ: khu phố P, phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng nên T dựng xe trƣớc cửa tiệm rồi đi vào bên trong nhà. T nhìn thấy bà T đang nằm ngủ trên ghế bên phải của phòng khách, bên trái của phòng có 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max Gold 64G đang sạc pin để trên bàn nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. T đi đến vị trí bàn đang để điện thoại sau đó dùng tay trái rút điện thoại ra khỏi dây sạc và cầm điện thoại trên tay đi ra hƣớng cửa định bỏ đi thì bị bà T phát hiện truy hô “Cƣớp, cƣớp!”. T để điện thoại lên yên xe mô tô và bỏ chạy ra sân thì bị bà T cùng một số ngƣời dân vây bắt và trình báo Công an phƣờng H.
Công an phƣờng H đã tiến hành lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang đối với Lê Mạnh T và bàn giao hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An thụ lý theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max Gold 64G; 01 (một) xe mô tô hiệu Attila, biển số 29U9-3634;
Tại Biên bản định giá và Bản kết luận định giá tài sản ngày 20/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max Gold 64G trị giá 6.500.000 đồng.
Tại Biên bản định giá và Bản kết luận định giá tài sản ngày 10/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An kết luận: 01 ốp lƣng điện thoại Iphone XS Max bằng nhựa màu đen, xanh có hình bông hoa màu xanh trị giá 50.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 121/CT-VKS-TA ngày 13 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Lê Mạnh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Mạnh T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max Gold 64G kèm ốp lƣng, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của bà T. Do đó, cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho bà T là có căn cứ.
Đối với (một) xe mô tô hiệu Attila, biển số 29U9-3634, quá trình điều tra xác định do bà H đứng tên sở hữu, bà H trình bày đã bán xe từ năm 2010 cho 01 ngƣời không quen biết trên mạng xã hội facebook, quá trình mua bán đã bàn giao toàn bộ Giấy chứng nhận đăng ký xe cho ngƣời mua, không làm thủ tục sang tên đổi chủ, bà H không có yêu cầu gì đối với xe mô tô trên. Lê Mạnh T khai nhận xe mô tô trên do T mua lại của 01 ngƣời đàn ông không rõ lai lịch ở khu vực chợ đầu mối T, thành phố Hồ Chí Minh với giá 3.000.000 đồng; khi mua ngƣời đàn ông có đƣa Giấy chứng nhận đăng ký xe cho T nhƣng quá trình sử dụng T đã làm mất. Do T sử dụng xe mô tô trên làm phƣơng tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bồi thƣờng nên không đề nghị xem xét.
- Bị cáo Lê Mạnh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân tốt cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Mạnh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, ngƣời làm chứng, vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 19/12/2022 tại địa chỉ số 98A, khu phố Hƣng Phƣớc, phƣờng Hƣng Định, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo Lê Mạnh T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max Gold 64G kèm ốp lƣng tổng trị giá 6.550.000 đồng của bà T. Tại Bản án số 109/2021/HSST ngày 25/3/2021 của Toà án nhân dân thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng “tái phạm”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, chƣa đƣợc xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo Lê Mạnh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung hình phạt là “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh, khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời và đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng nơi xảy ra vụ án. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị trừng trị nhƣng vì động cơ tham lam, tƣ lợi nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, đã bị xử phạt và cải tạo nhƣng không lấy đó làm bài học, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Lời đề nghị mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max Gold 64G kèm ốp lƣng là tài sản thuộc sở hữu của bà T, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T là đúng quy định.
Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Attila, biển số 29U9-3634 do bà H đứng tên sở hữu, bà H trình bày đã bán xe từ năm 2010 cho 01 ngƣời không quen biết trên mạng xã hội facebook, quá trình mua bán đã bàn giao toàn bộ Giấy chứng nhận đăng ký xe cho ngƣời mua, không làm thủ tục sang tên đổi chủ, bà H không có yêu cầu gì đối với xe mô tô trên. Bị cáo Lê Mạnh T mua lại xe trên của 01 ngƣời đàn ông không rõ lai lịch với giá 3.000.000 đồng và đã sử dụng xe mô tô trên làm phƣơng tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nƣớc.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Mạnh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2022.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc 01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu Attila, loại VICTORIA MP9, màu đen, biển kiểm soát 29U9-3634, số khung: RAGH125DD6D021531, số máy: VMM9BC-D021531.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/4/2023 giữa Công an thành phố Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).
3. Về án phí: Bị cáo Lê Mạnh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an TP. Thuận An; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Bị cáo; ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Ánh |