vanban.org

Bản án 144/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 30/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

TuY bố bị cáo Tr ng Ngọc Y phạm t i “Tr m cắp tài sản”.

Về h nh phạt: Xử phạt bị cáo Tr ng Ngọc Y 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 22/3/2023; đ ợc hấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/9/2017 đến ngày 18/9/2017. Về trách nhiệm d n sự: Bu c bị cáo Tr ng Ngọc Y phải bồi th ờng cho bị hại Nguyễn Thị Kim N số tiền 16.000.000 đồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? TuY bố bị cáo Tr ng Ngọc Y phạm t i “Tr m cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? luật H nh sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2023/HS-ST
Ngày: 30-8-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sinh.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Du;

- Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tr n Thị C m Th - Th

T a án nh n d n thành phố Th D u M t, t nh B nh D ng.

- i di n i n i m s t nh n d n thành ph Th ầu Một t nh Bình ương tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Hai - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở T a án nh n d n thành phố Th D u M t, t nh B nh D ng xét xử s th m công hai vụ án h nh sự thụ l số 132/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2023; theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 152/2023/QĐXXST-HS 16 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trƣơng Ngọc Y, sinh năm 1998; tại Cà Mau; n i đăng h h u th ờng trú: Ấp T, xã T, huyện T, t nh Cà Mau; chỗ ở: Khu phố A, ph ờng H, thị xã B, t nh B nh D ng; nghề nghiệp: Công nhân; tr nh đ học vấn: 06/12; giới tính: Nữ; d n t c: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tr ng Văn S và bà Võ Thị C m N; bị cáo có 01 ng ời con; tiền án, tiền sự, nh n th n: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2017 đến ngày 18/9/2017 đ ợc trả tự do; ngày 22/3/2023, bị bắt tạm giam cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1997; địa ch : Ấp T, xã M, huyện D, t nh B nh D ng; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Thành Nh, sinh năm 1980; địa ch : Số 12, đ ờng P, ph ờng H, thành phố T, t nh B nh D ng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên t a, n i dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

Khoảng 12 giờ ngày 31/8/2017, Tr ng Ngọc Y đến Công ty Wane , địa ch tại đ ờng số 06, hu phố 1, ph ờng H a Phú, thành phố Th D u M t, t nh B nh D ng để phỏng vấn xin việc làm. Tại đ y, trong lúc ngồi đợi phỏng vấn, Y gặp và quen với chị Nguyễn Thị Kim N cũng đến phỏng vấn xin việc làm tại Công ty Wane . Sau hi phỏng vấn xong, Y và chị N đ ợc Công ty Wane cho vào ph ng thử việc th Y nh n thấy chị N có cất chiếc ch a hóa chiếc xe mô tô, biển số 95H1 – 112.18 vào chiếc bịch nylon ở ph ng phỏng vấn rồi Y cùng chị N đi vào ph ng thử việc. Đến hoảng 13 giờ 45 phút, do Y thử việc hông đạt nên Công ty Wane hông nhận Y vào làm việc nên Y bỏ đi về tr ớc c n chị N đ ợc nhận vào làm việc. Trong lúc đi về, Y thấy chiếc bịch nylon c a chị N đang để ở ph ng phỏng vấn nên nảy sinh định lấy chiếc chìa khóa xe mô tô nói trên c a chị N rồi đi ra nhà xe mở cốp xe mô tô biển số 95H1 – 1121.8 để t m tài sản lấy tr m. Thực hiện định trên, Y lấy ch a hóa xe mô tô c a chị N rồi đi ra nhà xe Công ty Wane và mở cốp xe lấy tr m đ ợc 01 (m t) nhẫn vàng 24K; 05 (năm) nhẫn vàng 18K; 02 (hai) v ng tay bằng vàng 18K; 01 (m t) d y chuyền bằng vàng 18K và 01 (m t) mặt d y chuyền vàng 18K rồi Y đem ch a hoá xe mô tô biển số 95H1 – 112.18 để lại chiếc bịch nylon trong ph ng phỏng vấn c a Công ty Wane . Sau đó, Y đem số vàng đã lấy tr m đ ợc c a chị N về ph ng trọ, địa ch tại hu phố 1, ph ờng Hoà Phú, thành phố Th D u M t, t nh B nh D ng để cất giấu. Đến buổi chiều ngày 31/8/2017, Y đem số vàng tr m đ ợc đến Cửa hàng Vàng Kim Nhật, địa ch tại số 1249, đ ờng Phạm Văn Đồng, ph ờng H a Phú, thành phố Th D u M t, t nh B nh D ng bán cho ch cửa hàng là anh Phạm Thành Nh với số tiền 4.200.000 đồng.

Đến hoảng 16 giờ 30 phút ngày 01/9/2017, chị N mở cốp xe mô tô, biển số 95H1 – 112.18 th phát hiện số vàng để trong cốp xe mô tô đã bị mất; chị N nghi ngờ Y đã tr m nên đến Công ty Wane để xem lại Camera an ninh ở nhà xe c a Công ty th phát hiện Y là ng ời đã lấy tr m số tài sản nêu trên nên chị N đến Công an ph ờng H a Phú tr nh báo sự việc. Ngày 09/9/2017, Công an ph ờng H a Phú yêu c u Y về trụ sở để làm việc, Y đã hai nhận toàn b hành vi tr m cắp tài sản c a chị N. Cùng ngày 09/9/2017, Công an ph ờng H a Phú chuyển hồ s vụ việc và đối t ợng Y đến C quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Th D u M t, t nh B nh D ng để tiếp nhận, xử l theo th m quyền.

Đối với anh Phạm Thành Nh hi mua 01 (m t) nhẫn vàng 24K; 05 (năm) nhẫn vàng 18K; 02 (hai) v ng tay bằng vàng 18K; 01 (m t) d y chuyền bằng vàng 18K và 01 (m t) mặt d y chuyền vàng 18K c a Tr ng Ngọc Y thì anh Nh hông biết đ ợc đ y là tài sản do Y tr m c a ng ời hác mà có. Đồng thời, sau hi anh Nh mua lại số vàng nêu trên, anh Nh đã đem số vàng này nấu thành chất lỏng rồi để ngu i thành cục. Sau đó, anh Nh đã đem đến hu vực Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh để đổi lấy v ng đeo tay bằng vàng hác để phục vụ cho việc inh doanh nên C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Th D u M t hông thu hồi đ ợc số vàng nêu trên.

Ngày 14/9/2017, C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Th D u ra Quyết định tr ng c u định giá tài sản số 222 và Quyết định tr ng c u giám định số 178 ngày 19/9/2017 đối với 01 (m t) nhẫn vàng 24K; 05 (năm) nhẫn vàng 18K; 02 (hai) v ng tay bằng vàng 18K; 01 (m t) d y chuyền bằng vàng 18K và 01 (m t) mặt d y chuyền vàng 18K. Tuy nhiên, đến ngày 17/01/2018, H i đồng định giá tài sản th ờng xuY trong Tố tụng h nh sự thành phố Th D u M t và Ph ng Kỹ thuật h nh sự Công an t nh B nh D ng không có Kết luận định giá tài sản cũng nh Bản ết luận giám định đối với số vàng nêu trên. Do đó, C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Th D u hông đ c sở để ra quyết định hởi tố bị can đối với Tr ng Ngọc Y về hành vi tr m cắp tài sản. Ngày 17/01/2018, C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Th D u M t đã ra quyết định tạm đ nh ch điều tra vụ án.

Đến ngày 14/7/2021, C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Th D u M t tiếp tục có Yêu c u định giá tài sản số 755 để yêu c u H i đồng định giá tài sản th ờng xuY trong Tố tụng h nh sự thành phố Th D u M t định giá đối với: 01 (m t) nhẫn vàng 24K; 05 (năm) nhẫn vàng 18K; 02 (hai) v ng tay bằng vàng 18K; 01 (m t) d y chuyền bằng vàng 18K và 01 (m t) mặt d y chuyền vàng 18K. Ngày 20/9/2021, H i đồng định giá tài sản th ờng xuY trong Tố tụng h nh sự thành phố Th D u M t có Công văn số 443 về việc trả lời định giá tài sản theo yêu c u c a C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Th D u M t nh sau:

“Do tài sản yêu cầu định giá là vàng 18K, vàng 9999, bạch kim và ngọc trai (không thu hồi được), nên Hội đồng định giá thường xuY tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một không có cơ sở chuyển tài sản đến cơ quan chuY môn (Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh – C09B) hỗ trợ xác định chất lượng, trọng lượng của tài sản để làm cơ sở xác định giá trị tài sản theo yêu cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một. Hội đồng thống nhất xác định giá trị tài sản (vàng 18K, vàng 24K) tại thời điểm tài sản bị xâm hại trên cơ sở cung cấp tỉ giá vàng của Sở Tài chính tỉnh Bình Dương (Công văn số 2221/STC-GCS ngày 18/9/2017 của Sở Tài chính tỉnh Bình Dương) cung cấp cụ thể như sau: Giá vàng 24K bán ra là: 3.641.000 đồng/01 chỉ (ba triệu, sáu trăm bốn mốt nghìn đồng một chỉ); Giá vàng 18K bán ra là: 2.730.000 đồng/01 chỉ (hai triệu, bảy trăm ba mươi ngàn đồng một chỉ)”.

Căn cứ vào các Hóa đ n mua vàng c a bị hại Nguyễn Thị Kim N; lời hai c a ng ời mua vàng là anh Phạm Thành Nh; Công văn số 2221 ngày 18/9/2017 c a Sở tài chính t nh B nh D ng về việc cung cấp t giá vàng và Công văn số 443 ngày 14/7/2021 c a H i đồng định giá tài sản th ờng xuY trong tố tụng h nh sự thành phố Th D u M t, C quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Th D u M t xác định trị giá tài sản do Tr ng Ngọc Y chiếm đoạt c a chị Nguyễn Thị Kim N cụ thể nh sau:

Giá bán lẻ

Các thông số

tại thời điểm STT

Tên tài sản hảo sát

ỹ thuật c a

Thành tiền

tài sản bị

tài sản

x m phạm

Trọng(cid:13)l ợn

3.641.000

3.641.000 1 01 nhẫn tr n vàng 24K

g 1 ch

đồng/ch

đồng

Trọng l ợng

2.730.000

614.000 2 01 nhẫn h t đỏ vàng 18K

1 phân 7

đồng/ch

đồng

Trọng l ợng

2.730.000

2.429.000 3 02 nhẫn vàng 18K

7 phân 8

đồng/ch

đồng

01 nhẫn rồng ngậm h t Trọng l ợng

2.730.000

4.521.000 4

châu vàng 18K

1.5463 ch

đồng/ch

đồng

Trọng l ợng

2.730.000

646.000 5 01 nhẫn tr n vàng 18K

2 phân

đồng/ch

đồng

Trọng l ợng

2.730.000

2.920.000 6 02 Vòng tay vàng 18K

9 phân 6

đồng/ch

đồng

Trọng l ợng

2.730.000

1.323.000 7 01 d y chuyền vàng 18K

4 phân 3

đồng/ch

đồng

01 mặt d y chuyền vàng Trọng l ợng

2.730.000

665.000 8

18K

1 phân 89

đồng/ch

đồng

16.579.000

Tổng số tiền

đồng

Quá tr nh điều tra, C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Th D u M t nhận thấy: Hành vi c a Tr ng Ngọc Y đã đ yếu tố cấu thành t i Tr m cắp tài sản nên đã ra quyết định phục hồi điều tra vụ án h nh sự; đồng thời ra quyết định hởi tố bị can và lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Tr ng Ngọc Y để xử l theo quy định c a pháp luật. Tuy nhiên, C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Th D u M t đã thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam hông thành do Y đã bỏ trốn hỏi địa ph ng. Ngày 22/8/2022, C quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Th D u M t đã ra Quyết định truy nã đối với Tr ng Ngọc Y. Đến ngày 22/3/2023, C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Th D u M t bắt đ ợc Y theo quyết định truy nã để xử l theo quy định c a pháp luật.

Đối với bị hại N, quá tr nh điều tra chị N yêu c u bị cáo phải bồi th ờng số tiền 16.000.000 đồng. Hiện tại, Y ch a bồi th ờng số tiền nêu trên cho chị N.

Đối với anh Phạm Thành Nh hi mua số vàng mà bị cáo tr m thì anh Nh hông biết số tài sản trên do Y chiếm đoạt c a chị N mà có đ ợc. Do đó, C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Th D u M t hông đặt ra xem xét và xử l đối với anh Nh.

Cáo trạng số 126/CT-VKSTDM ngày 10/7/2023 c a Viện Kiểm sát nh n d n thành phố Th D u M t, t nh B nh D ng truy tố bị cáo Tr ng Ngọc Y về t i Tr m cắp tài sản theo hoản 1 Điều 173 B luật H nh sự.

Tại phiên t a, đại diện Viện Kiểm sát nh n d n thành phố Th D u M t giữ nguY quyết định truy tố và đề nghị H i đồng xét xử:

- Về h nh phạt: Áp dụng hoản 1 Điều 173; điểm i, s hoản 1 Điều 51; Điều 38 B luật H nh sự, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù.

- Về trách nhiệm d n sự: Tại phiên toà, bị hại thống nhất về số l ợng vàng đã bị chiếm đoạt nh trên và yêu c u bị cáo bồi th ờng số tiền 16.000.000 đồng, bị cáo đồng bồi th ờng nên đề nghị H i đồng xét xử ghi nhận.

- Về vật chứng: Không có.

Tại phiên t a, bị cáo đã hai nhận hành vi phạm t i c a m nh; bị cáo đồng bồi th ờng số tiền 16.000.000 đồng; hông có iến tranh luận, trong lời nói sau cùng, bị cáo xin H i đồng xét xử xem xét giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên t a, H i đồng xét xử nhận định nh sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng c a C quan điều tra, Điều tra viên, Viện iểm sát nh n d n thành phố Th D u M t, Kiểm sát viên trong quá tr nh hởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, tr nh tự, th tục tố tụng theo quy định c a B luật tố tụng H nh sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên t a, bị cáo, bị hại hông có iến hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định c a c quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng c a c quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên t a, bị cáo đã hai nhận toàn b hành vi phạm t i c a m nh. Lời hai c a bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án, phù hợp lời hai c a bị hại, n i dung bản cáo trạng và diễn biến tại phiên t a. V vậy, đ c sở ết luận: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 31/8/2017, tại hu vực nhà xe c a Công ty Wane , địa ch đ ờng số 06, hu phố 1, ph ờng H a Phú, thành phố Th D u M t, t nh B nh D ng, bị cáo Tr ng Ngọc Y đã lén lút lấy tr m c a bị hại Nguyễn Thị Kim Ng 01 (m t) nhẫn vàng 24K; 05 (năm) nhẫn vàng 18K; 02 (hai) v ng tay vàng 18K; 01 (m t) d y chuyền vàng 18K và 01 (m t) mặt d y chuyền vàng 18K; với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 16.579.000 đồng. Nên hành vi mà bị cáo thực hiện đ yếu tố cấu thành t i “Tr m cắp tài sản” theo hoản 1 Điều 138 B luật H nh sự năm 1999 (nay là hoản 1 Điều 173 B luật H nh sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017). Bị cáo có đ năng lực chịu trách nhiệm h nh sự. Do vậy, Cáo trạng c a Viện iểm sát nh n d n thành phố Th D u M t, t nh B nh D ng truy tố bị cáo với t i danh và điều hoản nh trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi c a bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, hông những x m phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản c a công d n đ ợc pháp luật bảo vệ mà c n g y mất trật tự, trị an tại địa ph ng n i xảy ra vụ án. Bị cáo nhận thức đ ợc hành vi chiếm đoạt tài sản c a ng ời hác là vi phạm pháp luật nh ng vẫn thực hiện hành vi phạm t i với lỗi cố , thể hiện thức xem th ờng pháp luật và bất chấp hậu quả. V vậy, c n xử bị cáo mức h nh phạt nghiêm, t ng xứng với tính chất, mức đ c a hành vi phạm t i mà bị cáo đã thực hiện; cách ly bị cáo ra hỏi xã h i m t thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công d n tốt, đồng thời nhằm răn đe và ph ng ngừa chung trong xã h i.

T nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự: Không.

T nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự: Bị cáo thành h n hai báo, ăn năn hối cải; phạm t i l n đ u và thu c tr ờng hợp ít nghiêm trọng. Đ y là các t nh tiết giảm nhẹ đ ợc quy định tại điểm i, s hoản 1 Điều 51 B luật H nh sự.

Căn cứ vào tính chất, mức đ nguy hiểm cho xã h i c a hành vi phạm t i, nh n th n, t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự đối với bị cáo, xét thấy mức h nh phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên H i đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm d n sự: Tại phiên t a, bị hại yêu c u bị cáo bồi th ờng số tiền 16.000.000 đồng, bị cáo đồng bồi th ờng nên H i đồng xét xử ghi nhận.

Về vật chứng: Không có.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

V các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào hoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s hoản 1 Điều 51 B luật H nh sự. Khoản 2 Điều 136, Điều 260 và Điều 333 B luật Tố tụng h nh sự. Điều 584, 585 và Điều 589 B luật D n sự. Điểm a hoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án:

TuY bố bị cáo Tr ng Ngọc Y phạm t i “Tr m cắp tài sản”.

1. Về h nh phạt: Xử phạt bị cáo Tr ng Ngọc Y 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 22/3/2023; đ ợc hấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/9/2017 đến ngày 18/9/2017.

2. Về trách nhiệm d n sự: Bu c bị cáo Tr ng Ngọc Y phải bồi th ờng cho bị hại Nguyễn Thị Kim N số tiền 16.000.000 đồng (m ời sáu triệu đồng).

Kể từ ngày có đ n yêu c u thi hành án c a ng ời đ ợc thi hành án cho đến hi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án c n phải chịu hoản tiền lãi c a số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 B luật d n sự năm 2015, trừ tr ờng hợp pháp luật có quy định khác.

Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án d n sự th ng ời đ ợc thi hành án d n sự, ng ời phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án d n sự.

3. Về vật chứng và biện pháp t pháp: Không có.

4. Về án phí: Bu c bị cáo Tr ng Ngọc Y phải chịu 200.000 đồng án phí h nh sự s th m và 800.000 đồng án phí d n sự s th m.

5. Bị cáo; Bị hại có mặt tại phiên t a đ ợc quyền háng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuY án; Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đ ợc quyền háng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày nhận đ ợc Bản án hoặc Bản án đ ợc niêm yết theo quy định c a pháp luật.

Cỡ chữ