- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Lương Văn T phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 144/2023/HS-ST Ngày: 10/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Hữu Tới
Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Thanh Hoá
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2023/TLST-HS ngày 07/4/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:
Lương Văn T, sinh năm 1992 tại huyện Q, tỉnh N.
Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ1, huyện Q, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn L và bà Quang Thị L1; có vợ Kim Thị N1, có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 16/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Thủy, Trợ giúp viên pháp lý. Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Người bị hại: Anh Nguyễn Xuân M, sinh năm 1996.
Nơi cư trú: thôn Q1, xã H, huyện H1, tỉnh T1, có mặt.
- Người làm chứng:
1. Bà Đỗ Thị K - Sinh năm 1970. vắng mặt.
Nơi cư trú: thôn N2, xã H2, huyện H1, tỉnh T1.
2. Anh Nguyễn Xuân H4 - Sinh năm 1984. vắng mặt.
Nơi cư trú: thôn K1, xã H3, huyện H1, tỉnh T1.
3. Anh Hà Văn Q2 - Sinh năm 1991, vắng mặt.
Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ1, huyện Q, tỉnh N.
4. Anh Nguyễn Văn T2 - Sinh năm 1996. có mặt.
Nơi cư trú: thôn Q1, xã H, huyện H1, tỉnh T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Xuân M, sinh năm 1996, trú tại thôn Q1, xã H, huyện H1, tỉnh T1 và Lương Văn T, sinh năm 1992, trú tại thôn Đ, xã Đ1, huyện Q, tỉnh N là công nhân cùng làm tại xưởng sản xuất đá xẻ thuộc Công ty TNHH T3, có địa chỉ tại thôn N3, xã H, huyện H1, tỉnh T1.
Trưa ngày 09/7/2022, sau khi uống rượu tại Công ty T3 xong, anh Nguyễn Xuân M, Lương Văn T và anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1996, trú tại thôn Q1, xã H, huyện H1, tỉnh T1 đi hát karaoke tại quán C, ở Tiểu khu 6 thị trấn H1, huyện H1. Đến khoảng 16h00’ cùng ngày cả nhóm ra về, lúc này anh M đi cùng xe với anh T2 về trước và giao xe máy BKS 36B8-195.21 của mình cho T để T đi về Công ty T3. T điều khiển xe máy BKS 36B8-195.21 khi đi qua Ủy ban nhân dân xã H2 thì bất ngờ xe mất lái và đâm vào bụi chuối ven đường khiến xe bị hư hỏng. Sau đó T gọi điện cho mọi người nói việc bị tại nạn nên anh M, anh T2 và anh Hà Văn Q2, sinh năm 1991, trú tại thôn Đ, xã Đ1, huyện Q, tỉnh N đến đón đưa T và xe máy về Công ty T3.
Khi về đến xưởng sản xuất đá của Công ty T3, do bực tức việc T đi xe máy của anh M bị ngã làm hư hỏng xe nên anh M chửi bới T. Hai bên xảy ra cãi nhau, anh M lấy dao dọa đánh T thì được mọi người có mặt tại xưởng gồm: anh T2, anh Q2, chị Đinh Thị K, sinh năm 1970, trú tại thôn L2, xã H2, huyện H1, tỉnh T1 và anh Nguyễn Xuân H4, sinh năm 1984, trú tại thôn K, xã H3, huyện H1, tỉnh T1 can ngăn và giằng dao lại. Anh M và T tiếp tục cãi chửi nhau, trong lúc T đang cúi để lấy nước uống thì M xông vào dùng tay chân đấm đá vào người T. Bị đánh, T ôm vật anh M xuống nền nhà và cả hai giằng co vật lộn nhau, T nằm đè lên người anh M trước, sau đó khi anh M nằm đè được lên người T thì anh M dùng tay đấm liên tiếp 2-3 cái vào mặt, người T. Lúc này anh Q2 và anh T2 lại can ngăn kéo anh M và T đứng dậy tách nhau ra. Tuy nhiên, sau khi đứng dậy anh M tiếp tục lao vào tấn công T thì T nhặt 01 chiếc buly bằng kim loại, hình tròn, đường kính 20cm đang để ở đống phế liệu cách chỗ T đứng khoảng 1m đập 01 phát theo chiều từ trên xuống dưới trúng vào vùng đỉnh thái dương trái anh M làm đầu anh M bị chảy máu. Được mọi người can ngăn, T bỏ chạy khỏi hiện trường, còn anh M được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện H1 và Bệnh viện đa khoa tỉnh T1 cấp cứu, điều trị.
* Thương tích của anh Nguyễn Xuân M:
- Anh Nguyễn Xuân M bị 01 vết thương vùng thái dương đỉnh trái bờ mép sắc gọn, kích thước (8x2)cm lộ xương sọ lún vỡ.
- Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 712/2022/TTPY ngày 08/9/2022, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Nguyễn Xuân M được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 42%.
- Bản Kết luận giám định pháp y cơ chế hình thành thương tích và xác định vật gây thương tích số 735/2022/TTPY ngày 08/9/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa, kết luận:
+ Vết thương vùng thái dương đỉnh trái bờ mép sắc gọn kích thước (8x2)cm lộ xương sọ lún, vỡ: do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây chấn thương, vết thương sọ não hở làm tổn thương vỡ lún xương đỉnh trái, tụ máu ngoài màng cứng vùng bán cầu trái, dập não đỉnh trái; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng hình ảnh ổ khuyết xương sọ vùng đỉnh trái kích thước (22x32)mm, đáy ổ khuyết phập phồng, sẹo vết thương và sẹo mổ xử lý vết thương sọ não hở vùng đỉnh thái dương chẩm trái.
Nếu đối tượng sử dụng Buly kim loại đường kính 20cm làm vật gây thương tích cho Nguyễn Xuân M thì có khả năng gây ra thương tích đối với vết thương tại vùng thái dương đỉnh trái đối với Nguyễn Xuân M như trên.
Với thương tích và vị trí thương tích của Nguyễn Xuân M như trên: Nếu không được xử lý y tế và can thiệp y học kịp thời thì có thể ảnh hưởng nguy hiểm đến tính mạng Nguyễn Xuân M.
* Hiện trường vụ án: được xác định tại phòng ăn của Công ty TNHH T3, ở thôn N3, xã H, huyện H1, tỉnh T1.
Phía Bắc giáp mương thoát nước khu vực làng nghề.
Phía Nam giáp xưởng đá của Công ty L3.
Phía Đông giáp đường liên xã H2 đi xã H dọc theo Kênh 3.
Phía Tây giáp mương nước khu làng nghề.
Phòng ăn của Công ty T3 có diện tích (6,1x7,5)m, có cửa rộng 2,8m, bên trong khu vực nấu ăn diện tích (60x240)cm, kê 01 bộ bàn ghế bàn đá, cách mép tường phía Đông nhà ở công nhân 55m có 01 đống sắt vụn kích thước (80x120)cm.
Vị trí xảy ra vụ án cách mép tường phía Đông nhà ở công nhân 1m30, cách mép nền nhà phòng nấu ăn với hè trước nhà 40cm.
Vị trí chiếc buly T nhặt dùng để đánh gây thương tích cho M cách mép tường phía Đông nhà ở công nhân 55cm, cách mép nền nhà phòng nấu ăn với hè trước là 95cm.
Vật chứng: Thu giữ tại hiện trường: 01 buly bằng kim loại hình tròn đường kính 20cm, dày 3cm, ở giữa có 01 hình tròn rỗng đường kính 10,5cm, ở vành ngoài có rãnh sâu 1cm, màu đen đã qua sử dụng.
Kết luận giám định pháp y về AND số: 139/2022/TTPY ngày 14/9/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh T1:
Dấu vết từ buly bằng kim loại hình tròn, đường kính 20cm, dày 3cm, ở giữa có 01 hình tròn rỗng đường kính 10,5cm, ở vành ngoài có rãnh sâu 1cm, màu đen, đã qua sử dụng gửi giám định pháp y về AND: không có AND nhiễm sắc thể thường.
Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Xuân M yêu cầu Lương Văn T bồi thường dân sự tổng số tiền 150.000.000đ. Lương Văn T đã bồi thường cho anh M tổng cộng 4.000.000đ.
Cáo trạng số 49/CT-VKS-P2 ngày 03/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá truy tố Lương Văn T tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38; Điều 57 Bộ luật hình sự. Điều 590 Bộ luật dân sự. Xử phạt: Lương Văn T: 08-09 năm tù.
Buộc Lương Văn T bồi thường tiền chi phí cấp cứu điều trị cho anh M: 14.019.000đ; tiền thuê xe 2.000.000đ; tiền mất thu nhập 03 tháng 36.000.000đ; tiền mất thu nhập của người chăm sóc 01 tháng 6.000.000đ; tiền tổn thất tinh thần từ 35-40 tháng lương tối thiểu.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng là chiếc buly bị cáo dùng để đánh người bị hại.
- Quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho Lương Văn T:
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo Lương Văn T thành khẩn khai báo, bồi thường thiệt hại, bị kích động do hành vi trái pháp luật của người bị hại, bị cáo là người dân tộc thiểu số hiểu biết pháp luật hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử xử mức thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát.
- Người bị hại: Đề nghị xử lý nghiêm đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Lương Văn T: Thừa nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, các quyết định tố tụng, và hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hoá, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá, của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tại phiên toà Lương Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Xuất phát từ việc Lương Văn T đi xe máy của anh Nguyễn Xuân M bị ngã dẫn đến làm hư hỏng xe, nên khoảng 16h00’ ngày 09/7/2022, tại phòng ăn của Công ty TNHH T3, ở thôn N3, xã H, huyện H1, tỉnh T1, anh M chửi bới T. Hai bên xảy ra cãi nhau, anh M dùng dao dọa chém và dùng tay, chân đấm đá vào người T. Bị đánh, T ôm vật anh M xuống nền nhà và cả hai giằng co vật lộn nhau. Quá trình vật nhau, khi anh M nằm đè được lên người T thì anh M dùng tay đấm liên tiếp 2-3 cái vào mặt T. Được mọi người can ngăn, kéo anh M và T đứng dậy tách nhau ra thì anh M tiếp tục lao vào T, bị tấn công T nhặt 01 cái buly bằng kim loại hình tròn đường kính 20cm, dày 3cm, ở giữa có 01 hình tròn rỗng đường kính 10,5cm đập 01 phát vào vùng đỉnh thái dương trái anh M, hậu quả anh M bị tổn hại 42% sức khỏe.
Hành vi của Lương Văn T dùng buly (hung khí nguy hiểm) đập 01 phát vào vùng đỉnh thái dương trái (vùng trọng yếu trên cơ thể) anh M, dẫn đến anh M bị vỡ, lún sọ não, tụ máu ngoài màng cứng vùng bán cầu trái, dập não đỉnh trái. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình có thể tước đoạt tính mạng của anh M, nhưng bị cáo vẫn thực hiện, anh M không chết là ngoài ý thức chủ quan của bị cáo, do được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện kịp thời. Hành vi của Lương Văn T đã phạm tội “Giết người”.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố Lương Văn T tội “Giết người”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự là chính xác.
Tính chất vụ án rất nghiêm trọng, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, anh M có dùng tay, chân đánh bị cáo trước, nhưng hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm tới tính mạng người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới tình hình trị an xã hội, vì vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục riêng, đồng thời phòng ngừa chung.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường cho người bị hại 4.000.000đ, bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội - là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế. Vì vậy, khi quyết định hình phạt giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành người tốt.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại yêu cầu tiền điều trị tại Bệnh viện 26.000.000đ, tiền mất thu nhập do phải nghỉ làm 04 tháng và tiền tổn thất tinh thần theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy các khoản chi phí điều trị có hóa đơn được chấp nhận và các khoản khác được chấp nhận gồm: Tiền thuốc điều trị 14.019.000đ; tiền thuê xe đi bệnh viện 2.000.000đ; tiền mất thu nhập 48.000.000đ (04 tháng); tiền mất thu nhập của người chăm sóc 6.000.000đ (01 tháng); tiền tổn thất tinh thần 54.000.000đ (30 tháng lương cơ bản), tổng cộng các khoản bị cáo phải bồi thường là 124.019.000đ, đã bồi thường 4.000.000đ, còn phải bồi thường tiếp 120.019.000đ.
Về vật chứng: Chiếc buly Lương Văn T dùng đập vào đầu anh M là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Lương Văn T phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố: Lương Văn T phạm tội “Giết người”.
* Áp dụng: khoản 2 Điều 123; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38; Điều 57 Bộ luật hình sự. Điều 590 Bộ luật dân sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23; điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH; khoản 1 mục I; điểm b khoản 1, khoản 3 mục 1 phần 2 Danh mục án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
* Xử phạt: Lương Văn T 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 16/9/2022.
* Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 buly bằng kim loại hình tròn đường kính 20cm, dày 3cm, ở giữa có 01 hình tròn rỗng đường kính 10,5cm, ở vành ngoài có rãnh sâu 1cm, màu đen đựng trong hộp giấy được dán kín niêm phong có chữ ký, chữ viết Nguyễn Hữu Tú, Lê Văn Bằng, Đỗ Thị Ánh, Hoàng Đình T và hình dấu tròn đỏ của Trung tâm Pháp y sở y tế tỉnh Thanh Hóa, hiện đang tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 101/2023/TV-CTHADS ngày 07/4/2023 giữa Phòng PC01 Công an tỉnh Thanh Hóa và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
* Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lương Văn T phải bồi thường cho anh Nguyễn Xuân M tổng các khoản 124.019.000đ, đã bồi thường 4.000.000đ, còn phải bồi thường tiếp 120.019.000đ.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu không thi hành thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
* Án phí: Lương Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 6.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
*Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - CQCSĐT PC01 Công an tỉnh; - CQTHAHS Công an tỉnh Thanh Hóa; - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa; - Trại tạm giam; - Bị cáo (qua Trại); - TGVPL; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thanh Hùng |