vanban.org

Bản án 144/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với Ông Lê Thanh T. Giấy chứng nhận kết hôn số 23, ngày 29/4/2021 của Ủy ban nhân dân xã Tân Tr, huyện Phú T, tỉnh An Giang, không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ T
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 07 - 4 - 2023
“V/v ly hôn giữa
Bà T và ông T”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ T, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thúy Phượng.

Ông Võ Thái Quân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị T1 – Thư ký Tòa án nhân dân HUYỆN PHÚ T, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú T, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại Tòa án nhân dân HUYỆN PHÚ T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 489/2022/TLST-HNGĐ ngày 08/12/2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 03 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1993.

Trú tại: Tổ 25, khóm Thị 2, thị trấn Chợ M, huyện Chợ M, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Lê Thanh T, sinh năm 1971.

Trú tại: Ấp Trung 2, xã Tân Tr, Huyện Phú T, tỉnh An Giang.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 30/11/2022 nguyên đơn Bà Nguyễn Thị T trình bày:

Sau thời gian tìm hiểu về tình cảm, Bà T và ông T tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Tr ngày 29/4/2021 giấy chứng nhận kết hôn số 23, thời gian đầu chung sống hạnh phúc về sau phát sinh mâu thuẫn do ông T ham mê cờ bạc, tiền làm ra bao nhiêu cũng tiêu xài cá nhân, không lo làm ăn, gây nợ nần, Bà T cũng cố gắng sống để chồng sữa đổi tính tình nhưng ông T không thay đổi. Tháng 08/2021 ông T bỏ nhà đi, vợ chồng ly thân, trong thời gian ly thân ông T không tới lui hay điện thoại hỏi thăm vợ con. Nay tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Không có .

Về nợ chung: Không có. Ngày 15/02/2023 Bà Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ông Lê Thanh T vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý vụ án nên không có ý kiến trình bày.

Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân được bà Lê Thị Cẩm Th, sinh năm 1965, chị ruột ông T cho biết: T là em ruột, T1 là em dâu.

Hôn nhân của Bà T, ông T do tìm hiểu nhau, sau đó vợ chồng tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống và có đăng ký kết hôn vào năm 2021. Trong thời gian chung sống T1, T thường xuyên cải nhau do T đi làm xa không về được nên T1 gây mâu thuẫn và vợ chồng ly thân với nhau từ năm 2022 đến nay. T1, T không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung được biết là không có.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng và đề xuất như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật, Tuy nhiên ông T vắng mặt từ khi được thông báo các văn bản tố tụng, nhưng ông không có mặt là chấp hành pháp luật chưa nghiêm.

- Về việc giải quyết vụ án: Hôn nhân của ông T và Bà T do tìm hiểu rồi thành vợ chồng, hôn nhân có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và ly thân, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn được. Nên yêu cầu ly hôn của Bà T là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, Nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Bà Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn Ông Lê Thanh T được tống đạt các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, nhưng ông, bà không có mặt nên HĐXX xét xử vắng mặt ông, bà theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hiện tại ông T có nơi cư trú tại ấp Trung 2, xã Tân Tr, huyện Phú T, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Huyện Phú T, tỉnh An Giang.

[2.] Về nội dung:

Hôn nhân của Bà T và ông T được xác lập năm 2021 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Tr nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.

Xét về yêu cầu ly hôn, thấy rằng: Trong thời gian chung sống vợ chồng Bà T, ông T có nhiều mâu thuẫn nên thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn kéo dài, đời sống tình cảm ngày càng trầm trọng. Ông T bỏ nhà đi, không liên lạc với gia đình, không tới lui hay điện thoại hỏi thăm vợ con. Tháng 8 năm 2021 vợ chồng ly thân, trong thời gian ly thân ông T, Bà T không hàn gắn được tình cảm vợ chồng, đều này hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ Tòa án thu thập được.

Theo quy định tại Điều 19, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau….”. Thế nhưng vợ chồng Bà T, ông T không còn chung sống khoảng hơn 20 tháng nay là khoảng thời gian dài. Điều này chứng tỏ vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cũng như không thể chia sẻ công việc trong gia đình với nhau được nữa, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất cho Bà Nguyễn Thị T được ly hôn Ông Lê Thanh T.

[3] Về con chung: Không có.

Bà T trình bày tài sản chung, nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nhưng sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

[4] Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

-Điều 19, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

-Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với Ông Lê Thanh T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 23, ngày 29/4/2021 của Ủy ban nhân dân xã Tân Tr, huyện Phú T, tỉnh An Giang, không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Không.

Về tài sản chung: Không.

Nợ phải thu, phải trả chung của vợ chồng: Không.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005842 ngày 07/12/2022 của Chi cục Thi hành án HUYỆN PHÚ T, tỉnh An Giang. Bà Nguyễn Thị T không phải nộp thêm án phí.

Ông Lê Thanh T không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông T, Bà T vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo đối với bản án là 15 ngày tính từ ngày ông, bà nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ