- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích H và bị đơn ông Nguyễn…"
- Tòa quyết gì? Ông Nguyễn Văn N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Nguyễn Thị Bích H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 144/2023/HNGĐ-ST Ngày: 15-6-2023 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Chí Bình.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Thiện Lai;
2. Ông Lê Đức Thụy.
Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Anh Tuấn, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 154/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2023 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 251/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp L, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích H trình bày, qua thời gian tự tìm hiểu, bà H và ông N kết hôn với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 01/8/2013. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh một con chung tên Nguyễn Văn Q, sinh ngày 15/3/2008. Hiện tại, cháu Q đang được ông N chăm sóc, nuôi dưỡng. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do ông N không lo làm ăn, không chăm lo vợ con, có hành vi bạo lực gia đình. Chính quyền địa phương không biết mâu thuẫn vợ chồng. Bà H và ông N không còn sống chung từ năm 2018 cho đến nay và không tới lui thăm nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông N; đồng ý để ông N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Văn Q, bà H không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện bao gồm: Giấy chứng nhận kết hôn số 262/2013, quyển số 02/2013, ngày 01/8/2013 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Bích H (bản chính); Giấy khai sinh số 0464, quyển số 03/2013, ngày 01/8/2013 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang cấp đối với Nguyễn Văn Q (bản sao);
- Bị đơn ông Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến. Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi phiên tòa được mở nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà H và ông N kết hôn vào năm 2006, có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà H, ông N hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do ông N không lo làm ăn phụ giúp gia đình và có hành vi bạo lực gia đình. Vợ chồng không còn sống chung từ năm 2018 cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu ly hôn với ông N.
Xét thấy, vợ chồng mâu thuẫn từ việc ông N không lo làm ăn phụ giúp gia đình, có hành vi bạo lực gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Từ khi bà H nộp đơn khởi kiện cho đến khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử, ông N biết nhưng không có ý kiến phản hồi và không tạo điều kiện hàn gắn hạnh phúc. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông N theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu Q cho ông N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; bà H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, do không có yêu cầu giải quyết nên đề nghị không đề cập giải quyết.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông N; ông N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Văn Q; bà H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Bích H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn N. Đồng thời, ông N cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Văn N đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân:
Bà H và ông N tự nguyện kết hôn vào năm 2006 và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông N là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Bà H xác định, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã do ông N không lo làm ăn, không chăm lo vợ con, có hành vi bạo lực gia đình. Bà H, ông N không còn sống chung từ năm 2018 cho đến nay.
Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà H và ông N thường xuyên cãi vã và không còn sống chung từ năm 2018 cho đến nay. Vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho ông N nhưng ông N không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà H. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà H, ông N là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông N theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [2.2] Về con chung: Bà H xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Nguyễn Văn Q, sinh ngày 15/3/2008. Bà H đồng ý để ông N được tiếp tục, chăm sóc nuôi dưỡng cháu Q; bà H không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, con chung đang được ông N chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Bên cạnh đó, theo biên bản ghi ý kiến ngày 07/4/2023, cháu Q có nguyện vọng sống cùng ông N trong trường hợp ông N, bà H ly hôn. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu Q cho ông N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng nuôi con chung, do ông N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi dưỡng cháu Q nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. [2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết. [2.4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích H. 1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích H được ly hôn với ông Nguyễn Văn N. Giấy chứng nhận kết hôn số 262/2013, quyển số 02/2013, ngày 01/8/2013 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Bích H và ông Nguyễn Văn N không còn giá trị pháp lý. 2. Về con chung: Ông Nguyễn Văn N được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Văn Q, sinh ngày 15/3/2008. Bà Nguyễn Thị Bích H không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Ông Nguyễn Văn N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Nguyễn Thị Bích H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Bích H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2022/0013369 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 16 tháng 3 năm 2023; bà Nguyễn Thị Bích H đã nộp đủ án phí.
Ông Nguyễn Văn N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị Bích H có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn Văn N được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Mới (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện C (1); - UBND xã K, huyện C, tỉnh An Giang (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Chí Bình |