vanban.org

Bản án 144/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, khoản 4 Điều 147, b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mứ…

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị S, cho chị S được ly hôn với anh Nguyễn Văn N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị S - Nguyễn Văn N"
  • Tòa quyết gì? 39, khoản 4 Điều 147, b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mứ…
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 7 - 2023
V/v Xin ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nhớ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Thanh Tú

Ông Nguyễn Tấn Lộc

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải là Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 10 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh

Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 109/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2023 về việc tranh chấp“Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:131/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1986 (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh C ..

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1984 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh C ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 27/02/2023 nguyên đơn là chị Nguyễn Thị S trình

bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn N tự nguyện kết hôn và có đăng

ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Trung, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau năm 2008. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2019 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, hai bên gia đình có hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay xét thấy hôn nhân giữa chị và anh N không còn hạnh phúc, không còn hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

- Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh N có 02 con chung tên

Nguyễn Như Quỳnh sinh ngày 27/5/2010 và Nguyễn Chúc Quỳnh sinh ngày 10/7/2015 đang sống cùng chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu, không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, do làm ăn xa, công việc nhiều nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết

vắng mặt chị trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

* Bị đơn là anh Nguyễn Văn N được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng

nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Văn N là tranh chấp

hôn nhân và gia đình về việc“Xin ly hôn và nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; chị S và anh N đều có địa chỉ cư trú tại ấp Bào Vũng, xã Tân Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án chị S có đơn xin

vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, anh N vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị S, anh N là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân xét thấy: Chị S và anh N tự nguyện kết hôn vào năm 2008

và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Trung, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau năm 2008. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị chị S và anh N đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Theo chị S trình bày, sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2019 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, hai bên gia đình có hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả từ đó chị và anh N cũng sống ly thân với nhau. Nay xét thấy hôn nhân giữa chị và anh N không còn hạnh phúc, không còn hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

Đối với anh N, quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập hợp lệ tham gia tố

tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của chị S. Như vậy, tình trạng hôn nhân của chị S và anh N đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được đúng như chị S xác định. Căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị S, cho chị S được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh N có 02 con chung tên

Nguyễn Như Quỳnh sinh ngày 27/5/2010 và Nguyễn Chúc Quỳnh sinh ngày 10/7/2015 đang sống cùng chị. Sau khi ly hôn, chị S yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu, không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, theo quy định của pháp luật thì:“Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền

ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên…”; “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con…” và theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình:“... con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Như vậy, cháu Nguyễn Như Quỳnh sinh ngày 27/5/2010 đã hơn 13 tuổi và cháu Nguyễn Chúc Quỳnh sinh ngày 10/7/2015 đã đủ 7 tuổi. Chị S xác định từ khi ly thân với anh N thì chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu. Mặt khác, căn cứ vào biên bản ghi nhận ý kiến của cháu Như Quỳnh và cháu Chúc Quỳnh ngày 08/6/2023 thì hai cháu xác định sau khi chịSáng và anh N ly hôn thì hai cháu có nguyện vọng sống cùng mẹ là chị S. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng để không gây xáo trộn cho cuộc sống của hai cháu, cần tiếp tục giao hai cháu cho chị S được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Anh N không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do chị S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không

đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung và nợ riêng:

Về tài sản chung: Chị S xác định chị và anh N không có, không yêu cầu Tòa

án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung, nợ riêng: Chị S xác định chị và anh N không có, không yêu

cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị S phải chịu án

phí theo Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều

39, khoản 4 Điều 147, b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị S, cho chị

S được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Như Quỳnh sinh ngày 27/5/2010 và

cháu Nguyễn Chúc Quỳnh sinh ngày 10/7/2015 cho chị S được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi; anh Nguyễn Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh N không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con

chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị S phải nộp

300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 27 tháng 02 năm 2023 chị S có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0008860 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án

trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án

dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thanh Tú

Nguyễn Tấn Lộc

Tăng Thị Nhớ

Cỡ chữ