- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị Lan H.
- Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC Quy định v…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 144/2023/HNGĐ-ST Ngày: 15-02-2023 V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Nhanh
2. Ông Nguyễn Thành Thông
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Xuân Hồng– Kiểm sát viên.
Ngày 15/02/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 280/2021/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 387/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Lan H, sinh năm 1990. (có đơn xin vắng mặt)
Cư trú: Tổ A, khu phố I, phường E, thành phố V, tỉnh P.
Tạm trú: Căn hộ P1-11.03 Vinhomes Central Park, 720 Đường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Jo Hyun Y, sinh năm 1983. (vắng mặt)
Quốc tịch: Hàn Quốc.
Địa chỉ: 21 X, W, S, J, Korea.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 18/10/2021 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Vũ Thị Lan H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Jo Hyun Y kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại G, tỉnh I, Hàn Quốc (Korea) ngày 05/3/2018 (bản sao chứng thực số 2018-10390, cấp ngày 08/3/2018) và được trích lục ghi chú kết hôn số 17/TLGCKH ngày 24/5/2018 tại Ủy ban nhân dân thành phố V, thỉnh P.
Sau khi kết hôn, thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về ngôn ngữ, quan điểm và lối sống tập quán. Bà và ông Jo Hyun Y đã nhiều lần nói chuyện nhưng không giải quyết được vấn đề, bà và ông Jo Hyun Y sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Hiện nay bà đang sinh sống tại Việt Nam, ông Jo Hyun Y vẫn ở Hàn Quốc. Do xa cách địa lý nên hai bên không có điều kiện quan tâm, chăm sóc cho nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng dần phai nhạt, phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết. Bà xác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Jo Hyun Y.
Về con chung: Bà và ông Jo Hyun Y có một con chung là trẻ Jo Ha N, sinh ngày 17/5/2018, giới tính: Nữ. Sau khi ly hôn, bà là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ Jo Ha N và bà không yêu cầu ông Jo Hyun Y cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
Vì bận việc, Bà Vũ Thị Lan H yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.
Bị đơn là ông Jo Hyun Y, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa xét xử vụ án thông qua thủ tục ủy thác tư pháp đến Cục Quản lý Tòa án quốc gia, Đại Hàn Dân Quốc theo công văn số 36/TTTPDS-30 ngày 13/01/2022 nhưng không có kết quả. Đến ngày mở phiên tòa, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không nhận được văn bản của Bộ Tư pháp về kết quả tống đạt văn bản cũng như không nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ của ông Jo Hyun Y và ông Jo Hyun Y không có mặt.
Ngày 17/10/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có Công văn số 748/TATP-TGĐVNCTN gửi Bộ Tư pháp với nội dung đề nghị Bộ Tư pháp thông báo kết quả ủy thác tư pháp đối với ông Jo Hyun Y, sinh năm 1983 cư trú tại địa chỉ 21 X, W, S, J, Korea.
Tuy nhiên, đến ngày xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không nhận được văn bản về kết quả thực hiện ủy thác tư pháp của Bộ Tư pháp; Ông Jo Hyun Y cũng vắng mặt.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về vụ án:
Về tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về địa vị tố tụng và đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.
Về nội dung, Kiểm sát viên phân tích yêu cầu của nguyên đơn xin ly hôn bị đơn là phù hợp và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Xét yêu cầu của nguyên đơn là bà Vũ Thị Lan H, Hội đồng xét xử nhận thấy bà H và ông Jo Hyun Y kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Hàn Quốc và được ghi chú kết hôn số 17/TLGCKH ngày 24/5/2018 tại Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh P. Vì vậy, căn cứ vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa án xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Nguyên đơn cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn hiện cư trú tại Đại Hàn Dân Quốc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự trong vụ án:
Nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu cung cấp bản khai, thông báo ngày, giờ, địa điểm xét xử nhưng đến thời điểm xét xử Tòa án vẫn không nhận được phản hồi của bị đơn. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 474, Khoản 4 và Khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Xét yêu cầu của bà Vũ Thị Lan H yêu cầu ly hôn ông Jo Hyun Y, Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của bà H (bà H cam kết chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời khai của bà) thì thực tế sau khi kết hôn hai bên phát sinh mâu thuẫn không thể giải quyết được. Từ khi kết hôn cho đến nay, bà H và ông Jo Hyun Y không có quá trình chung sống lâu dài, do xa cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay, bà H và ông Jo Hyun Y đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Vũ Thị Lan H yêu cầu ly hôn ông Jo Hyun Y là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Bà và ông Jo Hyun Y có một con chung là trẻ Jo Ha N, sinh ngày 17/5/2018, giới tính: Nữ. Bà H yêu cầu là người trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông Jo Hyun Y cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy trẻ Jo Ha N hiện đang sống cùng mẹ là bà H ở Việt Nam, để bảo đảm sự phát triển, ổn định trong việc học tập của trẻ nên chấp nhận yêu cầu của bà H và ghi nhận việc bà H không yêu cầu ông Jo Hyun Y cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Vũ Thị Lan H khai không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho bà Vũ Thị Lan H ly hôn ông Jo Hyun Y là phù hợp với thực tế nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí, chi phí tố tụng khác: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Vũ Thị Lan H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về phí ủy thác tư pháp và các chi phí tố tụng khác bà Vũ Thị Lan H chịu theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bà Vũ Thị Lan H và ông Jo Hyun Y có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 37, Điều 40, Điều 147, Điều 273, Điều 277, Điều 278, Điều 477 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Thông tư 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị Lan H.
Quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị Lan H được ly hôn ông Jo Hyun Y.
Con chung: Giao con chung là trẻ Jo Ha N, sinh ngày 17/5/2018, giới tính: Nữ cho bà Vũ Thị Lan H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Ông Jo Hyun Y không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu được quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Vũ Thị Lan H chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) được cấn trừ vào Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0001375 ngày 16/12/2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Bà Vũ Thị Lan H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Đối với Ông Jo Hyun Y thời hạn kháng cáo bản án là 12 tháng kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
THÀNH VIÊN
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lê Thị Nhanh Nguyễn Thành Thông | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Duyên |