vanban.org

Bản án 144/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 19/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm r, s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn N phạm tội “Trộm cắp tà i sản”. Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn N 01 năm 06 tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn N phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm r, s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PLEIKU
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 144/2022/HSST
Ngày: 19/9/2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU-TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Xuân Dệt.

2. Bà Nguyễn Thị Bắc.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Nhớ - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 134/2022/HSST ngày 26 tháng 8 năm 2022. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xứ số: 161/2022/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Vũ Văn N. Tên gọi khác: Không. Giới tính: N. Sinh năm 1986, tại Ninh Bình.

Nơi cư trú: Thôn 04, xã Hòa P, huyện Chư P, tỉnh Gia Lai.

Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo.

Trình độ học vấn: 6/12. Nghề nghiệp: Làm nông.

Con ông Vũ Văn T, sinh năm 1945 và con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1947. Có vợ là Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1989. Bị cáo có 02 người con, sinh năm 2012 và 2016. Vợ và các con của bị cáo hiện trú tại thôn 04, xã Hòa P, huyện Chư P, tỉnh Gia Lai.

Tiền án: Không. Tiền sự: Không.

Ngày 17/8/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” (theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự), tại Bản án số: 39/2022/HSST (hiện Bản án đã có hiệu lực pháp luật).

Bị cáo Vũ Văn N đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai ở một vụ án khác. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những ngƣời tham gia tố tụng:

* Người bị hại:

1/ Anh Lê Mạnh C, sinh năm 1993. Địa chỉ: 636 Phạm Văn Đ, tổ 1, phường Yên T, TP. P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

2/ Chị Phan Ngọc H, sinh năm 1996. Địa chỉ: 66/7 Kim Đ, tổ 1, phường Đống Đ, TP. P, tỉnh Gia Lai. Văng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 13 giờ ngày 29/12/2021, Vũ Văn N đi bộ một mình trên đường Phạm Văn Đ, phường Yên T, TP.P, để tìm cơ hội lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Khi đi đến quán cà phê B–Coffee ở số 636 đường Phạm Văn Đồng, Tổ 01, phường Yên Thế, N phát hiện có xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, biển số 54Y9-0772 đang dựng ở gốc cây bên cạnh quán, nhưng không có người trông coi và có chìa khóa cắm trong ổ khóa điện, nên quyết định chiếm đoạt xe mô tô này; đây là xe của anh Lê Mạnh C (sinh năm 1993, trú Tổ 01, phường Yên T, TP.P). N đi đến lén lút dắt xe mô tô 54Y9-0772 ra ngoài đường, rồi nổ máy điều khiển xe tẩu thoát về hướng huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Khi chạy đến khu vực xã Ia Nhin, huyện Chư Păh, thì xe hết xăng nên N để xe lại bên đường rồi bỏ đi. Xe mô tô 54Y9-0772 sau đó được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chư Păh tạm giữ. Đối với anh C, sau khi phát hiện bị mất xe mô tô 54Y9-0772, đã đến Công an TP.Pleiku trình báo.

Vụ thứ hai: Khoảng 12 giờ ngày 02/01/2022, Vũ Văn N một mình đi bộ ở khu vực chợ Đống Đa, phường Đống Đa, TP.Pleiku để tìm cơ hội lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Khi đi đến trước số nhà 66/7 đường Kim Đồng, Tổ 01 phường Đống Đa, N phát hiện có xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại AirBlade, biển số 81U1-129.25 dựng ở trong sân, chìa khóa vẫn cắm trong ổ khóa điện, nhưng không có người trông coi, nên quyết định chiếm đoạt xe mô tô này; đây là xe của chị Phan Ngọc H (sinh năm 1996, ở địa chỉ trên). N đi vào lén lút dắt xe mô tô 81U1-129.25 ra ngoài đường, rồi nổ máy điều khiển xe tẩu thoát về hướng huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Khi đến trị trấn Ia Kha, huyện Ia Grai thì xe mô tô 81U1-129.25 hết xăng, nên N để xe lại ven đường, rồi bỏ đi. Xe mô tô 81U1-129.25 sau đó được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ia Grai tạm giữ. Đối với chị H, sau khi phát hiện bị mất xe mô tô 81U1-129.25, đã đến Công an TP.Pleiku trình báo.

Đến ngày 05/01/2022, Vũ Văn N thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai thì bị bắt giữ, sau đó bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ia Grai khởi tố, tạm giam. Quá trình bị Cơ quan điều tra Công an huyện Ia Grai tạm giam để điều tra, N đã tự thú và khai nhận về các lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô tại phường Yên Thế và phường Đống Đa, TP.Pleiku như nêu trên. Sau khi tiếp nhận thông tin, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.Pleiku đã làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chư Păh, huyện Ia Grai và tiếp nhận các xe mô tô 54Y9-0772, 81U1-129.25 để làm rõ.

Qua định giá xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, biển số 54Y9-0772 của anh Lê Mạnh C bị Vũ Văn N chiếm đoạt ngày 29/12/2021, có trị giá 3.000.000 đồng; xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại AirBlade, biển số 81U1-129.25 của chị Phan Ngọc H bị N chiếm đoạt ngày 02/01/2022, có trị giá 16.340.000 đồng. Sau khi định giá, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.Pleiku đã xử lý trả lại các xe mô tô trên cho anh C và chị H.

Về dân sự: Sau khi được nhận lại xe mô tô bị chiếm đoạt, anh Lê Mạnh C và chị Phan Ngọc H không có yêu cầu gì khác về bồi thường dân sự.

Tại bản cáo trạng số: 145/CT-VKS ngày 25/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Vũ Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm r, s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn N phạm tội “Trộm cắp tà i sản”. Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Áp dụng: Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tổng hợp hình phạt với Bản án số: 39/2022/HSST ngày 17/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, xử phạt bị cáo Vũ Văn N 02 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vậy bị cáo Vũ Văn N phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2022. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong các ngày 29/12/2021 và 02/01/2022, tại phường Yên Thế và phường Đống Đa, TP.Pleiku, tỉnh Gia Lai, Vũ Văn N đã thực hiện 02 vụ lén lút chiếm đoạt xe mô tô của người khác, chiếm đoạt được 02 xe mô tô gồm: Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, biển số 54Y9-0772, trị giá 3.000.000 đồng của anh Lê Mạnh C và xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại AirBlade, biển số 81U1-129.25 trị giá 16.340.000 đồng của chị Phan Ngọc H. Ngày 05/01/2022, khi N thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, thì bị bắt giữ. Sau đó, N đã tự thú và khai nhận về các lần chiếm đoạt xe mô tô trên địa bàn TP.Pleiku, như nêu trên. Các xe mô tô biển số 54Y9-0772 và 81U1-129.25, đã được thu hồi trả lại cho người bị hại.

[2] Xét về hành vi tố tụng và các quyết định tố tụng trong quá trình điều tra truy tố: Trong quá trình điều tra truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân TP. Pleiku đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lờ i khai của bị hại cùng các tài li ệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án . Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đối với bị cáo Vũ Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét hành vi của phạm tội của bị cáo: Khi thấy sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản trong việc quản lý tài sản là bị cáo liền thực hiện hành vi chiếm đoạt và đã lén lút thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản, tài sản bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị 19.340.000 đồng, thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bên cạnh đó bị cáo có nhân thân xấu có 03 bản án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” mặc dù đã được xóa án tích, nhưng bị cáo đã không lấy đó làm bài học, để tu sửa bản thân trở thành người lương thiện mà lại tiếp tục phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân, nên cần phải xử bị cáo một mức án nghiêm.

Tuy nhiên xét quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và tự thú hành vi phạm tội của mình. Dù giảm nhẹ nhưng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo được biện pháp giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Ngày 17/8/2022, bị cáo Vũ Văn N bị Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, tại Bản án số: 39/2022/HSST, nên áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để tổng hợp hình phạt của nhiều Bản án.

Về dân sự: anh Lê Mạnh C và chị Phan Ngọc H đã nhận được tài sản do bị trộm cắp không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên không xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm r, s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn N phạm tội “Trộm cắp tà i sản”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn N 01 năm 06 tháng tù.

- Áp dụng: Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tổng hợp hình phạt với Bản án số: 39/2022/HSST ngày 17/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt bị cáo Vũ Văn N 02 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vậy bị cáo Vũ Văn N phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2022

- Căn cứ: khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Vũ Văn N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nơi cư trú.

Cỡ chữ