- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Lê Thành Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 144/2022/HS-ST Ngày: 22-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Đổi.
Ông La Văn Việt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Trị - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 138/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Lê Thành Tr, sinh ngày 20/3/1995, tại Long An; Nơi cư trú: Khu vực B, thị trấn H, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Thúy Ng, sinh năm 1924 (chết) và bà Lê Thị M, sinh năm 1972 (chết); Bản thân chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án:
- Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 34/2020/HSST ngày 27/7/2020, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/4/2021, đến nay chưa được xóa án tích.
Bị cáo Phạm Lê Thành Tr bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đến nay (có mặt).
Bị hại: Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Thùy D, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Ấp N, xã M, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 10/8/2022, T (không rõ nhân thân, lai lịch) rủ bị cáo tìm tài sản của người khác sơ hở chiếm đoạt để bán lấy tiền tiêu xài, bị cáo đồng ý. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày T điều khiển xe mô tô loại Wave của tường, không rõ biển số, chở bị cáo đến đoạn đường đá xanh thuộc ấp H, xã H, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Tại đây Tường và bị cáo nhìn thấy xe mô tô biển số 62M3-8207 của anh Nguyễn Hữu H dựng cặp lề đường, không có người trông giữ bên thống nhất lấy trộm xe này. T chở bị cáo qua khỏi vị trí dựng xe mô tô khoảng 30-40 mét thì dừng lại, T quan sát cảnh giới, bị cáo đi bộ tiếp cận xe mô tô của anh H lấy cây đoản và khóa số 8 hai đầu bằng kim loại từ trong túi quần đã chuẩn bị sẵn, bẻ khóa công tắc điện để nổ máy xe nhưng không nổ máy được. Nên bị cáo dẫn xe mô tô biển số 62M3-8207 đi khoảng 02 mét thì bị anh H phát hiện truy hô, Tường điều khiển xe mô tô của T tẩu thoát, khi chạy qua một con kênh, bị cáo quăng bỏ cây đoản và khóa số 8 hai đầu bằng kim loại xuống kênh. Đến khoản 09 giờ ngày 11/8/2022, bị cáo đến Công an xã H, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Vật chứng tạm giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Famous, màu xanh, số máy: 52FMH-001616, số khung: 0UM7XN-01616, biển số 62M3-8207 (thu giữ của anh H); 01 áo khoát thun dài tay màu xanh dương, có chữ Adidas trên ngực bên trái, 01 quần short Jean màu xám đen (thu giữ của bị cáo).
Quá trình điều tra xác định: Xe mô tô biển số 62M3-8207 có số máy: 52FMH-001616, số khung: 0UM7XN-01616, do chị Trần Thị Thùy D đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Tháng 02/2015 chị Dương bán xe này cho anh H sử dụng đến ngày 10/8/2022 bị bị cáo trộm.
Tại Kết luận định giá tài sản số 82/KL.ĐGTS ngày 12/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Hòa đã kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Famous, loại 108, biển số 62M3-8207, số máy: 52FMH-001616, số khung: 0UM7XN-01616 giá trị là 3.500.000đ.
Tại bản cáo trạng số 135/CT-VKSĐH ngày 01 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Phạm Lê Thành Tr tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Phạm Lê Thành Tr gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Lê Thành Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Lê Thành Tr mức hình phạt từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
Về tang vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa đã xử lý vật chứng, trả lại xe môt tô, biển số 62M3-8207 cho anh H xong nên không đề nghị xem xét.
Đối với 01 đoản và khóa số 8 hai đầu bằng kim loại bị cáo đã quăng bỏ mất, không thu hồi được nên không đề nghị xem xét.
Đối với 01 áo khoát thun dài tay màu xanh dương, có chữ Adidas trên ngực bên trái, 01 quần short Jean màu xám đen đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Lê Thành Tr hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại anh Nguyễn Hữu H trình bày tại cơ quan điều tra: Ngày 10/8/2022, bị cáo Phạm Lê Thành Tr trộm của anh xe mô tô biển số 62M3-8207. Nay anh đã nhận lại xe, anh không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Thùy D trình bày tại cơ quan điều tra: xe mô tô biển số 62M3-8207 chị mua năm 2007, chị sử dụng đất năm 2015 thì bán lại cho anh H. Nay chị không có ý kiến yêu cầu gì đối với chiếc xe này.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Lê Thành Tr tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản giữ người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường cùng với bản kết luận về định giá tài sản số 82/KL.ĐGTS ngày 12/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện Đức Hòa và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên ngày 10/8/2022, bị cáo Phạm Lê Thành Tr đã lén lút trộm của anh Nguyễn Hữu H 01 xe mô tô biển số 62M3-8207. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Phạm Lê Thành Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Phạm Lê Thành Tr với tội danh và Điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà bị cáo Tr gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ, nếu người nào cố tình xâm hại thì sẽ bị pháp luật trừng phạt. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến tài sản đang thuộc sở hữu của anh Nguyễn Hữu H, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp, cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản ngày 27/7/2020, bị cáo chưa được xóa án tích, bị cáo tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, bị đầu thú. Do đó, xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo.
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Phạm Lê Thành Tr là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tang vật chứng:
Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa đã xử lý vật chứng, trả lại 01 xe mô tô biển số 62M3-8207 cho anh Nguyễn Hữu H nên không xem xét.
Đối với 01 áo khoát thun dài tay màu xanh dương, có chữ Adidas trên ngực bên trái, 01 quần short Jean màu xám đen không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 đoản và khóa số 8 hai đầu bằng kim loại bị cáo đã quăng bỏ mất, không thu hồi được nên không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Hữu H không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên không xem xét.
Chị Trần Thị Thùy Dương chủ sở hữu xe mô tô biển số 62M3-8207, chị Dương đã bán xe này lại cho anh H và không có ý kiến yêu cầu gì đối với chiếc xe này nên không xem xét.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Lê Thành Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Lê Thành Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Phạm Lê Thành Tr 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2022.
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021): Tiếp tục tạm giam bị cáo Phạm Lê Thành Tr 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 22/11/2022) để bảo đảm thi hành án.
Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021):
- Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoát thun dài tay màu xanh dương, có chữ Adidas trên ngực bên trái, 01 quần short Jean màu xám đen.
Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 22-02/11/2022 ngày 02/11/2022.
2.Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Phạm Lê Thành Tr nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
3.Về kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; VKSND tỉnh Long An; - Sở Tư pháp tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - CQ CSĐT CA huyện Đức Hòa; - CQ THAHS CA huyện Đức Hòa; - Chi cục Thi hánh án dân sự huyện Đức Hòa; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Quyên |