vanban.org

Bản án 144/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 10/08/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thúy L.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thúy L được ly hôn anh Nguyễn Duy T. Về con chung: Giao con chung tên là Nguyễn Lucas, sinh ngày 19/01/2017 cho chị Đặng Thúy L nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đặng Thúy L xin t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn Loan + Thành"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thúy L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2022/HNGĐ-ST
Ngày 10-8-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Hồ Điệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Dỏn - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 102/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thúy L, sinh năm 1981, nơi cư trú: Số 104 Tô Hiến Thành, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Vắng mặt và xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Duy T, sinh năm 1983, nơi ĐKHKTT: Số 06/7/108 Hoàng Quý, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Cộng hòa Liên bang Đức. Vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn Đặng Thúy Loan trình bày:

Chị kết hôn với anh Nguyễn Duy T trên cơ sở tự nguyện, tổ chức theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội vào ngày 19 tháng 8 năm 2014. Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc được mấy năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xẩy ra bất đồng trong cuộc sống. Vợ chồng đã cố gắng hòa hợp song mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Mặc dù mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải song không đạt kết quả. Tháng 5 năm 2018, anh T đi lao động tại Cộng hòa Séc, hiện tại anh T đang ở Đức. Cũng chính vì vậy, tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Trên thực tế vợ chồng đã sống ly thân với nhau gần 4 năm nay, không quan tâm đến nhau. Chị không biết địa chỉ cụ thể của anh T ở Đức, tuy nhiên anh T vẫn thường xuyên liên lạc về với người thân trong gia đình là ông Nguyễn Văn Long, sinh năm 1960, địa chỉ: Số 127 Trần Nguyên Hãn, quận Lên Chân, thành phố Hải Phòng (bố đẻ anh T). Địa chỉ cuối cùng của anh T ở Việt Nam là số 06/7/108 Hoàng Quý, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh T để chị nhanh chóng ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Lucas, sinh ngày 19/01/2017. Con chung hiện tại đang ở với chị. Ly hôn, chị đề nghị được nuôi dưỡng con chung, việc cấp dưỡng nuôi con chung chị xin tự giải quyết với anh T, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị xin giải quyết với anh T về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn - anh Nguyễn Duy T:

Sau khi thụ lý, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý cho bố đẻ anh Nguyễn Duy T là ông Nguyễn Văn Long. Tòa án đã 2 lần thông báo cho ông Nguyễn Văn Long cung cấp địa chỉ của anh Nguyễn Duy T ở Cộng hòa liên bang Đức và yêu cầu ông Nguyễn Văn Long cho biết kết quả về việc ông đã thông báo cho anh Nguyễn Duy T để gửi lời khai về Tòa án chưa. Lời khai của ông Nguyễn Văn Long thể hiện: Anh Nguyễn Duy T vẫn thường xuyên liên lạc với ông nhưng ông không biết địa chỉ cụ thể anh Nguyễn Duy T ở Cộng hòa liên bang Đức. Ông đã thông báo cho anh Nguyễn Duy T về yêu cầu của Tòa án. Anh Nguyễn Duy T có quan điểm: Anh Nguyễn Duy T đồng ý ly hôn với chị Đặng Thúy L, anh đồng ý để chị L nuôi dưỡng con chung và tài sản vợ chồng tự giải quyết. Do anh bận công việc nên anh không thể gửi lời khai về cho Tòa án. Ông Nguyễn Văn Long đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của chị Đặng Thúy L và anh Nguyễn Duy T để anh chị được ly hôn, ổn định cuộc sống.

Tại Công văn số 11421/QLXNC-P5 ngày 03/6/2022 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an thể hiện: Anh Nguyễn Duy T đã xuất cảnh gần nhất ngày 28/6/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.

Tại phiên tòa, chị Đặng Thúy L và anh Nguyễn Duy T đều vắng mặt và chị Đặng Thúy L xin xét xử vắng mặt, không thay đổi lời khai như đã gửi Tòa án.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đa chấp hành đúng cã

́c quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng dân sự; nguyên đơn đa thực hiện đũ

́ng các quyền và nghia vu ̣ đúng theo quỹ định của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự; bị đơn anh Nguyễn Duy T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chị Đặng Thúy L và anh Nguyễn Duy T xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội vào ngày 19 tháng 8 năm 2014 là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thúy L. Về con chung: Đề nghị giao con chung là Nguyễn Lucas, sinh ngày 19/01/2017 cho chị Đặng Thúy L nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chung chị Đặng Thúy L xin tự giải quyết với anh Nguyễn Duy T, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị Đặng Thúy L xin tự giải quyết với anh Nguyễn Duy T về tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn anh Nguyễn Duy T có hộ khẩu thường trú và có nơi cư trú cuối cùng ở thành phố Hải Phòng nhưng hiện đang sinh sống ở nước ngoài (Cộng hòa liên bang Đức), nguyên đơn chị Đặng Thúy L hiện nay đang sinh sống ở thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Đặng Thúy L và anh Nguyễn Duy T đều vắng mặt, chị Đặng Thúy L đề nghị xét xử vắng mặt. Việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Duy T: Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Nguyễn Duy T vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Đặng Thúy L và anh Nguyễn Duy T xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội vào ngày 19 tháng 8 năm 2014 theo quy định tại Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng thể hiện: Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được mấy năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng với nhau trong quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau trong một khoảng thời gian dài. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải song không đạt kết quả. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Đặng Thúy L và anh Nguyễn Duy T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho chị Đặng Thúy L được ly hôn với anh Nguyễn Duy T.

Về con chung: Chị Đặng Thúy L và anh Nguyễn Duy T có một con chung là Nguyễn Lucas, sinh ngày 19/01/2017. Ly hôn, chị Đặng Thúy L đề nghị được nuôi con chung. Xét thấy, hiện anh Nguyễn Duy T đang ở nước ngoài và không có địa chỉ cụ thể nên không có điều kiện chăm sóc con chung bằng chị L. Mặt khác, con chung đang ở với chị L và còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ nên yêu cầu này của chị Đặng Thúy L là phù hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Để đảm bảo quyền lợi cho con chung, do đó cần giao con chung Nguyễn Lucas cho chị Đặng Thúy L nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đặng Thúy L xin tự giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung với anh Nguyễn Duy T, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Đặng Thúy L xin tự giải quyết về tài sản chung với anh Nguyễn Duy T, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đặng Thúy L là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị Đặng Thúy L và anh Nguyễn Duy T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thúy L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thúy L được ly hôn anh Nguyễn Duy T.

2. Về con chung: Giao con chung tên là Nguyễn Lucas, sinh ngày 19/01/2017 cho chị Đặng Thúy L nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đặng Thúy L xin tự giải quyết với anh Nguyễn Duy T, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở, người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung: Chị Đặng Thúy L xin tự giải quyết về tài sản chung với anh Nguyễn Duy T, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đặng Thúy L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi dân

́ sự sơ thẩm đa nô ̣̃ p là 300.000đ (Ba trăm nghin đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng

̀

án phí số 0000450 ngày 09 tháng 5 năm 2022 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Đặng Thúy L đa nô ̣̃ p đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Đặng Thúy L (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Anh Nguyễn Duy T (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ