vanban.org

Bản án 144/2020/ST-HNGĐ — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1-Xác định chị LTT và anh NĐK có một con chung là NPL, sinh ngày 23.

Xác định cháu NĐA, sinh ngày 25.12.2007không phải con đẻ của anh NĐK. Xác định cháu NĐA, sinh ngày 25.12.2007là con đẻ của chị LTT và anh NĐH. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Tuyết và Nguyễn Đức Hành và Nguyễn Đình Khải"
  • Tòa quyết gì? 1-Xác định chị LTT và anh NĐK có một con chung là NPL, sinh ngày 23.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TX
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2020/ST-HNGĐ
Ngày:16-3-2020
V/v:tranh chấp xác định cha cho
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TX, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà PT

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà HTXH

2. Ông ĐQL

- Thư ký phiên tòa: Bà TTHT

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận TX, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà NTTL-Kiểm sát viên

Ngày16 tháng3 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận TX, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khaivụ án thụ lý số:724/2019/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng12 năm 2019 về tranh chấp“xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:60/2020/QĐXX-ST ngày09 tháng3 năm2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị LTT, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số 6, ngách 3/1 Nhân Hòa, phường NC, quận TX, thành phố Hà Nội; Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

Bị đơn:

1. Anh NĐH, sinh năm 1959; Địa chỉ: Số 9, tổ 28 Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội;Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

2. Anh NĐK, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số 6 ngách 3/1 Nhân Hòa, phường NC, quận TX, thành phố Hà Nội; Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 86/2009/QĐST-HNGĐ ngày 16.9.2009 của Tòa án nhân dân quận TX đã quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

- Về tình cảm: Công nhận sự thuận tình ly hôn.

- Về con: có 02 con chung là NPL, sinh ngày 23.3.2000 và NĐA, sinh ngày 25.12.2007. Giao chị LTT nuôi con chung NĐA, anh NĐK nuôi con chung NPL, chị Tuyết cấp dưỡng nuôi con cho anh Khải 800.000 đồng/tháng kể từ tháng 9.2009 đến khi con chung trưởng thành.

Ngoài ra, Quyết định còn ghi nhận các thỏa thuận khác.

Tại Quyết định tái thẩm số 36/2019/HNGĐ ngày 16.10.2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã quyết định: Hủy một phần Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 86/2009/QĐST-HNGĐ ngày 16.9.2009 của Tòa án nhân dân quận TX, thành phố Hà Nội về phần con chung trong việc dân sự giữa chị LTT với anh NĐK; Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân quận TX, thành phố Hà Nội giải quyết lại về phần con chung theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự thống nhất xác định: NĐA, sinh ngày 25.12.2007 là con đẻ của chị LTT và anh NĐH, không phải con đẻ của anh NĐK. Yêu cầu Tòa án xác định cháu NĐA, sinh ngày 25.12.2007 là con đẻ của anh NĐH, không phải là con đẻ anh NĐK, hai bên chấm dứt quyền, nghĩa vụ cha con với nhau. Đối với cháu NPL, sinh ngày 23.3.2000 là con chung giữa chị LTT và anh NĐK, các đương sự xác định đúng như Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 86/2009/QĐST-HNGĐ ngày 16.9.2009 của Tòa án nhân dân quận TXkhông có yêu cầu gì.

Kèm theo là hồ sơ vụ kiện qua các giai đoạn sơ thẩm, tái thẩm.

Tại phiên tòa: chị LTT, anh NĐK và anh NĐH có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận TX, thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự giải quyết vụ án; các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử: Xác định chị LTT và anh NĐK có một con chung là NPL, sinh ngày 23.3.2000; Xác định cháu NĐA, sinh ngày 25.12.2007 là con đẻ của chị LTT và anh NĐH, không phải con đẻ của anh NĐK;về án phí: miễn án phí cho chị LTT.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: chị LTT, anh NĐK và anh NĐH có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt là phù hợp với Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về các vấn đề giải quyết trong vụ án:

Theo yêu cầu của chị LTT, Tòa án nhân dân quận TX đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 10/2019/QĐ-TCGĐ ngày 04.02.2020.

Anh NĐK xin vắng mặt và không đồng ý lấy mẫu giám định nên Tòa án nhân dân quận TX đã lấy mẫu giám định của cháu NPL, là con đẻ của anh NĐK để thực hiện việc giám định xác định cháu NPL và NĐA có phải là anh em cùng cha hay không?

Tại bản kết luận giám định số 33/C09-TT3 ngày 28.02.2020 của Viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận:

- Chị LTT là mẹ đẻ cháu NPL và cháu NĐA.

- Anh NĐH là cha đẻ cháu NĐA

- Cháu NPL và cháu NĐA không phải là anh em cùng cha.

Bản kết luận giám định phù hợp với lời khai của các đương sự và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Căn cứ Điều 88, 89, 101, 102 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015, có cơ sở xác định cháu NĐA, sinh ngày 25.12.2007 là con riêng của chị LTT và anh NĐH, không phải con đẻ của anh NĐK. Giữa cháu NĐA và anh NĐK chấm dứt quyền, nghĩa vụ cha con với nhau. Đối với cháu NPL, sinh ngày 23.3.2000 là con chung giữa chị LTT và anh NĐK, đã được giải quyết theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 86/2009/QĐST-HNGĐ ngày 16.9.2009 của Tòa án nhân dân quận TX các đương sự không yêu cầu xác định lại.

Ghi nhận sựtự nguyện của chị LTT không yêu cầu anh NĐH cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí:Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Miễn án phí xác nhận cha con cho chị LTT.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vàoCăn cứ vào Điều 27, 63, 227, 220, 264, 266, 267, 273, 278, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 88, 89, 101, 102 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:

1-Xác định chị LTT và anh NĐK có một con chung là NPL, sinh ngày 23.3.2000.

Xác định cháu NĐA, sinh ngày 25.12.2007không phải con đẻ của anh NĐK.

Xác định cháu NĐA, sinh ngày 25.12.2007là con đẻ của chị LTT và anh NĐH.

2- Giao cháu NĐA, sinh ngày 25.12.2007cho chị LTT trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị LTT không yêu cầu anh NĐH cấp dưỡng nuôi con.

3- Về án phí và quyền kháng cáo:

Miễn án phí xác nhận cha con cho chị LTT.

Án xử công khai sơ thẩm. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nơi nhận:

- Các đương sự;

- Viện kiểm sát nhân dân quận TX;

- Thi hành án dân sự quận TX;

- Lưu.

PT

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

HỘI THẨM NHÂN DÂN

(27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án.

(29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:

Cỡ chữ