- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 144/2020/HSST Ngày: 19/11/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sơn Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Bùi Thị Cẩm Vân
2/ Bà Huỳnh Thị Thu Thảo
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2020, tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 136/2020/TLST-HS ngày 29/10/2020, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị T; Sinh năm: 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: không đăng ký thường trú, không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Công T (đã chết) và bà Thái Thị T1; có chồng tên Đỗ Đình N và 3 con, con lớn nhất sinh năm 2001 và nhỏ nhất sinh năm 2013.
- Tiền án :
Ngày 25/5/2016, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 235/HSST/2016), tuy nhiên do T đang nuôi con nhỏ nên hoãn thi hành hình phạt tù. Ngày 15/10/2018 đi thi hành án đến 26/4/2019 chấp hành xong án phạt tù.
- Tiền sự : Không
- Nhân thân:
- Ngày 27/12/1999, Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù treo về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (Bản án số 306/1999/HSST).
- Ngày 07/5/2002, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 53/2002/HSST).
- Ngày 17/01/2003, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 120/2003/HSST).
Tạm giam: 08/09/2020, bị cáo có mặt tại phiên tòa
Bị hại: Ông Nguyễn Văn T (vắng mặt) ; địa chỉ: 967/11/2 A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 05 phút ngày 08/9/2020, Nguyễn Thị T đi xe ôm đến Bệnh viện Ung bướu tại 47 A, Phường B, quận C, thành phố Hồ Chí Minh nhằm mục đích tìm người sơ hở để trộm cắp tài sản. Trong lúc chen lấn ở khu nộp sổ khám bệnh, T thấy ông Nguyễn Văn T đang đứng nộp sổ, túi quần trước bên phải có 01 bóp màu xanh nên T dùng tay phải luồn từ phía sau lấy trộm bóp của ông T. Sau khi lấy được bóp thì T bị anh Phạm Bá P là bảo vệ bệnh viện phát hiện bắt quả tang đưa về trụ sở công an làm việc.
Qua làm việc tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị T khai nhận toàn bộ hành vi như trên.
Thu giữ, xử lý vật chứng:
- 01 chiếc bóp màu xanh của ông Nguyễn Văn T, trong đó có 01 giấy đăng ký xe, 01 bằng lái xe, một số giấy tờ và 1.350.000 đồng tiền mặt, đây là tài sản hợp pháp của ông T nên Công an Phường 14 đã trả lại tài sản trên cho ông T.
- 01 USB có chứa hình ảnh camera ghi hình T trộm cắp tài sản, lưu làm chứng cứ theo hồ sơ chuyển Tòa án.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Nguyễn Văn T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 133/CT-VKSBT ngày 28 tháng 10 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố của mình, sau khi luận tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời nói sau cùng của bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về hòa nhập cộng đồng làm người công dân tốt cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ, cho thấy:
Lợi dụng sơ hở của ông Nguyễn Văn T, bị cáo T đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc bóp màu xanh trong đó có 1.350.000 đồng tiền mặt và một số giấy tờ tùy thân khác vào ngày 08/9/2020 tại bệnh viện Ung bướu địa chỉ 47 A, Phường B, quận C.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nhưng không chịu cải sửa bản thân, làm lại cuộc đời, làm người có ích cho xã hội, tìm kiếm những đồng tiền bằng những việc làm chân chính mà lại tiếp tục sa lầy, chỉ vì cần tiền tiêu xài mà không phải bỏ công sức để lao động nên bị cáo đã phạm tội, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, xét cần xử phạt nghiêm nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Về vật chứng: Đã xử lý xong trong giai đoạn điều tra – truy tố, cụ thể như sau:
- 01 chiếc bóp màu xanh của ông Nguyễn Văn T, trong đó có 01 giấy đăng ký xe, 01 bằng lái xe, một số giấy tờ và 1.350.000 đồng tiền mặt, đây là tài sản hợp pháp của ông T nên Công an Phường 14 đã trả lại tài sản trên cho ông T, ông T không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
- 01 USB có chứa hình ảnh camera ghi hình T trộm cắp tài sản, lưu làm chứng cứ theo hồ sơ ( bút lục 88).
Trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Nguyễn Văn T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 02 năm tù
Thời hạn tù tính từ ngày 08/09/2020
- Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được niêm yết hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND Tp.HCM; - VKSND q.Bình Thạnh; - Nhà tạm giữ - CA quận Bình Thạnh; - Chi cục THA quận Bình Thạnh; - Thi hành án hình sự; - PC.27 Công an Tp.HCM; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu VP - HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sơn Thủy |