- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Phi H phạm các tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; “Cố ý gây thương tích” và tội “Chống người thi hành công vụ”. - phạm tội cố ý g…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo c a người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Phi H là ông Nguyễn Văn T. Sửa phần quyết định c a bản án hình sự sơ thẩm về phần h nh phạt và phần xử lý vật chứng.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 144/2020/HS-PT Ngày: 29-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các ẩ
: Ông Nguyễn Tuấn Anh
Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 103/2020/TLPT-HS ngày 03 tháng 4 năm 2020 đối v i ị cáo Nguyễn Phi H. Do c háng cáo c a ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo pháp luật c a bị cáo Nguyễn Phi H đối v i Bản án h nh sự sơ thẩm số: 09/2020 H - T ngày 26 tháng 02 năm 2020 c a Tòa án nhân dân thị xã H.
-
Nguyễn Phi H, sinh năm 19XX; Nơi đăng ý Hộ khẩu thường trú: Ấp An L, xã An B, thị xã H, t nh Đ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: XX/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Gi i tính: Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 19XX và bà Lê Thị L, sinh năm 19XX; vợ tên Nguyễn Thị H ng Q (đã ly hôn vào năm 2010); có 01 con, sinh năm 2007; c 05 chị, em, bị cáo là thứ hai trong gia đ nh; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 29/3/2019, bị Công an thị xã H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản, phạt tiền 3.500.000đ ng; nhân thân: Ngày 10/01/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã H xử phạt 02 (Hai) năm 06 ( áu) tháng tù về 03 tội: “H y hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; công nhiên chiếm đoạt tài sản; chống người thi hành công vụ”, ngày 11/5/2020, Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm vụ án nêu trên và tuyên phạt bị cáo 02 (hai) năm 03 ( a) tháng tù; Tạm giữ: Ngày 28/11/2019; Tạm giam: Ngày 07/12/2019 cho đến nay. Hiện bị cáo đang ị tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Đ ng Tháp. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho b cáo Nguyễn Phi H theo yêu cầu: Luật sư Võ Thị Băng Giang - Văn phòng Luật sư Băng Giang thuộc Đoàn Luật sư t nh Đ ng Tháp (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp cho b cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh năm 19XX (có mặt);
2. Lê Thị L, sinh năm 19 (có mặt).
Cùng nơi cư trú: Ấp An L, xã An B, thị xã H, t nh Đ.
Ngoài ra, trong vụ án còn có gười b hại, gười
y ợi và g a ụ i quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng ngh .
NỘI DUNG V ÁN:
i iệ
r g
ụ
diễ i ại i
a i d g ụ đượ
ư a
Vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 27/11/2019, anh Nguyễn Văn P điều khiển xe ô tô biển số 6XA-XXXXX chở ông Nguyễn Văn T1 (Đội trưởng Đội nghiệp vụ Thanh tra giao thông số 3, t nh Đ), thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giải tỏa hành lang lộ gi i, tuyến đường Quốc Lộ 30, thuộc địa phận xã An B, thị xã H. Lúc này bị cáo Nguyễn Phi H đang đậu xe mô tô biển kiểm soát số 6XHX- XXXXX trư c cửa quán nư c c a anh Nguyễn Văn K (tại ấp An P, xã An B, thị xã H), bị cáo nhìn thấy xe ô tô biển kiểm soát số 6XA-XXXXX đang di chuyển từ hư ng phường An L đi xã An B nên nhặt đá ở lề đường ném vào xe ô tô trúng vào cánh cửa trư c bên trái và kính chiếu hậu bên trái. Ông P thấy c người ném đá vào xe nên dừng lại để kiểm tra, bị cáo lại tiếp tục lượm đá ở lề đường ném nhiều cái về phía xe ô tô biển kiểm soát số 6XA-XXXXX.
au hi ném đá vào xe ô tô c a Thanh tra Sở giao thông xong, bị cáo H chạy lại lấy xe mô tô c a bị cáo r i điều khiển xe chạy lại vị trí xe ô tô biển kiểm soát số 6XA-XXXXX, bị cáo lấy hai cây dao (loại dao thái lan) cầm trên hai tay rượt đuổi chém ông T1 và ông P. Ông T1 kịp thời chạy vào nhà dân lẫn tránh nên bị cáo quay sang rượt chém ông P. Ông P chạy vào nhà chị Đỗ Thị Mỹ T2, lúc này bị cáo đuổi kịp và chém trúng vào tay trái c a ông P r i quay lưng đi, ông P trốn vào phòng tắm nhà chị T2 đ ng cửa lại thì bất ngờ bị cáo quay lại dùng chân đạp làm cánh cửa phòng tắm bị sứt rời, bị cáo tiếp tục dung dao chém vào tay phải ông P gây thương tích. Lúc này anh Lê Tuấn A đi vào ngăn cản kéo bị cáo ra khỏi nhà. Ông P được mọi người xung quanh sơ cứu vết thương và đưa đến Bệnh viện Đa hoa hu vực H cấp cứu, sau đ chuyển đến Bệnh viện Đa hoa Đ ng Tháp tiếp tục điều trị.
Sau khi sự việc xảy ra, lực lượng chức năng tiến hành công tác khám nghiệm hiện trường và thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối v i Nguyễn Phi H. Lúc này, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 6XHX- XXXXX đến khu vực lực lượng chức năng hám nghiệm hiện trường, cầm dao khiêu khích lực lượng đang làm nhiệm vụ; bị cáo sử dụng nhiều vỏ chai th y tinh (vỏ chai th y tinh c a anh Tiết Thanh T3) đập vỡ ném về phía lực lượng đang hám nghiệm. Lực lượng Công an thị xã H được tăng cường xuống hiện trường để bảo vệ và tiến hành vận động bị cáo phối hợp làm việc, nhưng bị cáo không chấp hành, lên xe bỏ trốn. au đ , lực lượng Công an phát hiện bị cáo đang ở quán nư c c a anh Tiết Thanh T3 (địa ch ấp An P, xã An B, thị xã H) nên tiếp tục thực hiện Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối v i bị cáo. Khi thấy lực lượng Công an đến, bị cáo dùng dao đâm vào người anh Nguyễn Văn T4 (Công an thị xã H đang thi hành nhiệm vụ bắt giữ bị cáo) nhưng hông trúng và bị cáo bỏ chạy vào nhà dân lẫn tránh và trốn thoát. Đến ngày 28 tháng 11 năm 2019, bị cáo bị bắt giữ và đưa về trụ sở Công an làm việc.
* Vật chứng vụ án Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, vàng đ ng, màn hình cảm ứng, trên thân điện thoại có hình quả táo, điện thoại đã qua sử dụng, chưa iểm tra chất lượng hoạt động bên trong;
- 01 (một) cục sạc điện thoại màu trắng, cục sạc đã qua sử dụng;
- 01 (một) cục pin dự phòng màu trắng, hiệu AI 263, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng hoạt động;
- 01 (một) con dao dài 37 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 23 cm, cán bằng gỗ màu vàng, nâu dài 14cm (dao đã qua sử dụng);
- 01 (một) con dao dài 25 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10cm (dao đã qua sử dụng);
- 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 6XHX- XXXXX, loại xe Wave an pha, màu trắng (xe đã qua sử dụng, chưa iểm tra chất lượng hoạt động);
- 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát số 6XA-XXXXX, nhãn hiệu: FORD, số loại: RANGER, màu đen, số máy: P4AT1046815, số khung: MNCLMFF80DW141919, xe đã qua sử dụng, bị hư hỏng như thời điểm tạm giữ phương tiện, chưa iểm tra chất lượng hoạt động;
- 01 (một) cánh cửa nhựa mica ích thư c: chiều dài 1,80m; chiều ngang 68cm;
- Nhiều mãnh vỡ th y tinh;
- 01 (một) áo vải dài tay màu xanh, có gắn nhãn hiệu dòng chữ Sở giao thông vận tải bên vai trái, có vết rách dài 05cm ở cổ tay trái, thân tay áo bên trái có dính chất màu đỏ, trên thân áo còn gắn hàm hiệu, cành tùng c a ngành thanh tra giao thông (áo đã qua sử dụng);
- 01 (một) bảng tên Nguyễn Văn P chức danh thanh tra viên thuộc Sở giao thông vận tải Đ;
- 01 (một) cái quần vải dài, màu xanh (đã qua sử dụng).
Riêng con dao và cục đá bị cáo H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, lực lượng chức năng tổ chức truy t m nhưng hông t m thấy.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số: 69/KL-HĐĐG ngày 04 tháng 12 năm 2019 c a Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát số 6XA - XXXXX số máy 1046815, số khung DW 141919. Giá trị khảo sát sửa chữa nh quân là 7.456.000 đ ng.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số: 73/KL-HĐĐG ngày 24 tháng 12 năm 2019 c a Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: giá trị thiệt hại tài sản tấm cửa nhựa mica ích thư c chiều dài 1,80 m; chiều ngang 68 cm, là 833.000 đ ng; 10 (mười) vỏ chai nư c ngọt, là 9.330 đ ng.
* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 367/TgT ngày 05/12/2019 c a trung tâm Pháp y t nh Đ ng Tháp kết luận thương tích c a Nguyễn Văn P:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Dấu vết phần mềm + sây sát da ngón III bàn tay phải, ngón II bàn tay phải, ngón IV bàn tay phải, mặt sau cẳng tay trái.
- Đứt gân duỗi cổ tay trụ, gân duỗi các ng n III, IV, V tay trái; đứt gân duỗi ngón III bàn tay phải đã phẫu thuật khâu nối gân.
- Gãy đốt xa ngón II bàn tay phải đã phẫu thuật kết hợp xương.
2. Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể c a Nguyễn Văn P do thương tích gây nên hiện tại là 10 % tại thời điểm giám định.
3. Kết luận khác: Vết thương phần mềm do vật sắc tác động gây nên tổn thương. Chiều hư ng tác động trực tiếp từ trên xuống.
* Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 188 2019 KL GĐTC và Công văn số 188.0/PYTT, ngày 12/9/2019, c a Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ, đối v i bị can Nguyễn Phi H.
á.
■&
- Về y học: Trư c, trong, sau khi phạm tội và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm
I :• Ị
. í thần: Rối loạn nhân cách cảm xúc không ổn định (F60.3- ICD10).
- Về năng lực: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần.
- Về trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại đương sự c năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhưng c ệnh lý tâm thần làm hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
- Về năng lực hành vi dân sự: Hiện tại đương sự c h hăn trong nhận thức, làm ch hành vi.
* Các vật chứng thu giữ Cơ quan điều tra đã xử lý:
- Trả cho ông Nguyễn Văn T1 (đại diện theo y quyền c a nguyên đơn dân sự Sở giao thông vận tải t nh Đ): 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát số: 6XA-XXXXX, nhãn hiệu: FORD, số loại: RANGER, màu đen, số máy: P4AT1046815, số khung: MNCLMFF80DW141919, xe đã qua sử dụng, bị hư hỏng như thời điểm tạm giữ phương tiện, chưa iểm tra chất lượng hoạt động.
- Trả cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị Mỹ T2: 01 (một) tấm cửa nhựa mica ích thư c chiều dài 1,80m; chiều ngang 68cm (đã qua sử dụng, bị hư hỏng như thời điểm tạm giữ).
- Trả cho ông Nguyễn Văn T (người đại diện hợp pháp c a bị cáo):
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone màu đen, vàng đ ng, màng hình cảm ứng, trên thân điện thoại có hình quả táo (điện thoại đã qua sử dụng, chưa iểm tra hoạt động chất lượng bên trong);
+ 01 (một) cục sạc điện thoại màu trắng (đã qua sử dụng);
+ 01 (một) cục sạc dự phòng màu trắng, hiệu A1263 (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng hoạt động).
- Về dân sự: Bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận b i thường tiền điều trị thương tích cho ông Nguyễn Văn P v i số tiền 15.000.000đ ng, b i thường cho ông Nguyễn Văn T1 (người đại diện theo y quyền c a nguyên đơn dân sự Thanh tra Sở giao thông vận tải t nh Đ) v i số tiền 7.456.000đ ng, nhưng ị cáo chưa hắc phục cho ông Nguyễn Văn P và người đại diện theo y quyền c a nguyên đơn dân sự là ông Nguyễn Văn T1. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì khác.
ại
ự
ẩ
09/2020/HS- g y 26 tháng 02 ă 2020 ủa a
d th xã H đã q y đ :
Căn cứ vào khoản 1 Điều 178, điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phi H 01 (một) năm tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 134, điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm e khoản 1 Điều 52 c a Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phi H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 330, điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phi H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Căn cứ Điều 55 c a Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Phi H phải chấp hành hình phạt chung c a 03 tội là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ: Ngày 28/11/2019.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 c a Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu h y: 01 (một) con dao dài 37 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 23 cm, cán bằng gỗ màu vàng, nâu dài 14cm; 01 (một) con dao dài 25 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10 cm và nhiều mãnh vỡ th y tinh.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nư c: 01 (một) xe mô tô biển số 6XHX-XXXXX, nhãn hiệu Ware anpha, do Nguyễn Phi H đứng tên.
Trả cho bị hại Nguyễn Văn P: 01 (một) áo vải dài tay màu xanh, có gắn nhãn hiệu dòng chữ Sở giao thông vận tải bên vai trái, có vết rách dài 05cm ở cổ tay trái, thân tay áo bên trái có dính chất màu đỏ, trên thân áo còn gắn hàm hiệu, cành tùng c a ngành thanh tra giao thông; 01 (một) bảng tên Nguyễn Văn P chức danh thanh tra viên thuộc Sở giao thông vận tải Đ; 01 (một) cái quần vải dài, màu xanh.
(Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H, t nh Đ đang quản lý).
Ngoài ra
ẩ
y
trách nhiệm dân sự,
y k g
đ
Ngày 04 tháng 3 năm 2020, ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo pháp luật c a bị cáo Nguyễn Phi H c đơn háng cáo v i nội dung xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H và yêu cầu được nhận lại xe mô tô biển số 6XHX -XXXXX.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ phát biểu quan điểm cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử ị cáo Nguyễn Phi H v i các tội danh, điều khoản c a các tội danh và mức hình phạt nêu trên là c căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Xét mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối v i bị cáo là phù hợp. Cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân cũng như các t nh tiết tăng nặng và giảm nhẹ đối v i ị cáo. au hi án sơ thẩm tuyên, người đại diện theo pháp luật c a bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cung cấp chứng cứ m i là đã tác động gia đ nh nộp số tiền 10.000.000 đ ng để b i thường cho những người bị hại ở tội danh “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “Cố ý gây thương tích”. Đây là t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 c a Bộ luật hình sự. Mặc khác, bị cáo có bệnh tâm thần, bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết cố tình thực hiện tội phạm đến cùng theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 c a Bộ luật Hình sự đối v i bị cáo ở tội “Cố ý gây thương tích” là chưa chính xác. Do đ , đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a người đại diện theo pháp luật c a bị cáo Nguyễn Phi H, sửa phần quyết định c a ản án sơ thẩm về hình phạt đối v i ị cáo theo hư ng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” từ 01 đến 03 tháng tù, tội “Cố ý gây thương tích” giảm từ 03 đến 06 tháng tù. Đối v i yêu cầu kháng cáo xin nhận lại xe mô tô biển số 6XHX-XXXXX. Xét thấy, bị cáo sử dụng xe mô tô biển số 6XHX-XXXXX làm phương tiện di chuyển chứ không sử dụng phương tiện này để thực hiện việc phạm tội nên không tịch thu sung quỹ Nhà nư c mà trả lại cho bị cáo.
Luật sư ào chữa cho bị cáo thống nhất quan điểm v i vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản c a tội danh mà án sơ thẩm đã áp dụng đối v i bị cáo H. Đ ng thời vị luật sư cũng nên ra các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như ị cáo bị bệnh tâm thần, bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên bị cáo đã thực hiện một chuỗi hành vi mà không biết dừng lại để r i phạm cùng lúc nhiều tội danh. Ch trong thời gian ngắn, bị cáo đã gây ra 02 vụ án, lẽ ra các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương phải áp dụng biện pháp thích hợp theo luật định để hạn chế hậu quả trong khi lần gây án trư c đã iết bị cáo bị bệnh tâm thần. Bị cáo đã tác động gia đ nh nộp số tiền 10.000.000 đ ng để b i thường cho những người bị hại ở các tội danh “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “Cố ý gây thương tích”. Đây là t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 c a Bộ luật hình sự. Xin Hội đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối v i yêu cầu kháng cáo xin nhận lại xe c a ông T, vị luật sư đ ng quan điểm v i vị đại diện Viện kiểm sát.
Ông Nguyễn Văn T hông tranh luận mà ch xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H và xin xem xét trả lại xe mô tô biển số 6XHX-XXXXX cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, hông tranh luận mà ch xin giảm nhẹ hình phạt.
NH N ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Phi H đã thừa nhận hành vi phạm tội c a mình. Lời khai nhận tội c a bị cáo phù hợp v i lời khai c a bị cáo tại cơ quan điều tra, lời hai người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong h sơ vụ án, đ cơ sở để xác định: Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 27/11/2019, khi gặp xe lưu thông c a Thanh tra Sở giao thông vận tải t nh Đ trên đường Quốc lộ 30 thuộc địa phận xã An B thì bị cáo đã c hành vi dùng đá ở ên đường ném vào xe ô tô biển kiểm soát số 6XA-XXXXX trúng vào cánh cửa trư c bên trái và kính chiếu hậu bên trái và làm hư hỏng. Sau đ , ị cáo cầm hai cây dao (loại dao thái lan) rượt chém ông T1 và ông P; ông T1 kịp thời chạy vào nhà người dân lẫn tránh, còn ông P bị bị cáo chém 01 nhát trúng vào tay trái tại nhà chị T2, ông P tiếp tục bỏ chạy vào phòng tắm thì bị cáo quay lại dùng chân đạp cửa phòng tắm và tiếp tục chém ông P trúng vào tay trái và các ngón tay bên phải. Khi lực lượng công an đến khám nghiệm hiện trường và giữ người trong trường hợp khẩn cấp, thì bị cáo tiếp tục có hành vi dùng xe mô tô biển kiểm soát số 6XHX-XXXXX chở một thùng võ chai nư c ngọt (loại th y tinh) đập ném vào lưc lượng công an đang làm nhiệm vụ, cản trở họ thực hiện công vụ được giao. Đ ng thời, cũng trong ngày 27 11 2019, khi lực lượng công an tiếp tục truy bắt bị cáo thì bị cáo lại c hành vi dùng dao đâm đ ng chí Nguyễn Văn T4 (Công an thị xã H đang thi hành nhiệm vụ bắt giữ bị cáo) nhưng hông trúng và bị cáo bỏ chạy vào nhà dân trốn thoát. Đến ngày 28 tháng 11 năm 2019, bị cáo bị bắt giữ và đưa về trụ sở Công an làm việc.
[2] Hội đ ng xét xử xét thấy các hành vi c a bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, không ch xâm phạm đến sức khỏe, quyền sở hữu tài sản c a người khác một cách trái pháp luật mà còn xâm phạm, cản trở sự hoạt động nh thường, đúng đắn c a các cán bộ Công an làm nhiệm vụ. Đ ng thời, gây xôn xao dư luận, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo nhận thức được việc dùng đá ném vào xe ô tô thì có thể gây thiệt hại về tài sản c a xe. Bị cáo cũng nhận thức được việc dùng dao chém vào cơ thể c a người khác là sẽ gây thương tích, cũng như dùng dao tấn công lực lượng công an đang làm nhiệm vụ, cản trở họ thực hiện công vụ là vi phạm pháp luật, là có tội nhưng ị cáo vẫn thực hiện và hậu quả đã xảy ra làm cho xe ô tô c a Thanh tra Sở giao thông vận tải t nh Đ bị thiệt hại tài sản v i số tiền 7.456.000 đ ng; ông Nguyễn Văn P bị tổn thương cơ thể v i tỷ lệ 10 % và khi lực lượng công an làm nhiệm vụ giữ người khẩn cấp đối v i bị cáo thì bị cáo dùng dao chống trả quyết liệt, chứng tỏ việc phạm tội c a bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử ị cáo Nguyễn Phi H về các tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; “Cố ý gây thương tích” và “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 178, khoản 1 Điều 134 và khoản 1 Điều 330 c a Bộ luật Hình sự là c căn cứ, đúng người, đúng tội. Xét mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là phù hợp v i tính chất, mức độ mà hành vi phạm tội c a ị cáo gây ra. au hi án sơ thẩm tuyên, người đại diện hợp pháp c a bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cung cấp tình tiết m i là bị cáo đã tác động gia đ nh nộp số tiền 10.000.000 đ ng để b i thường cho những người bị hại ở tội danh “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “Cố ý gây thương tích”. Đây là t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 c a Bộ luật hình sự. Mặc khác, bị cáo có bệnh tâm thần, bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết cố tình thực hiện tội phạm đến cùng theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 c a Bộ luật Hình sự đối v i bị cáo ở tội “Cố ý gây thương tích” là chưa phù hợp. Do đ , Hội đ ng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo c a người đại diện hợp pháp c a bị cáo, sửa phần Quyết định c a ản án sơ thẩm về hình phạt, giảm cho bị cáo một phần về hình phạt.
Đối v i yêu cầu kháng cáo xin nhận lại xe xe mô tô biển số 6XHX-XXXXX. Xét thấy, bị cáo sử dụng xe mô tô biển số 6XHX-XXXXX làm phương tiện di chuyển đến hiện trường chứ không sử dụng phương tiện này để thực hiện việc phạm tội. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 c a Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự thì những công cụ, phương tiện dung vào việc phạm tội m i tịch thu sung quỹ nhà nư c. Do đ , đối v i xe mô tô nêu trên không thuộc trường hợp tịch thu sung quỹ nhà nư c mà phải trả lại cho bị cáo là m i phù hợp.
[4] Xét đề nghị c a vị đại diện Viện kiểm sát đối v i bị cáo H cũng như lời bào chữa c a vị luật sư cho ị cáo tại phiên tòa là c căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đ ng xét xử chấp nhận.
[5] Do kháng cáo c a ông Nguyễn Văn T được chấp nhận nên ông T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác c a quyết định ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b hoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 c a Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo c a người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Phi H là ông Nguyễn Văn T. Sửa phần quyết định c a bản án hình sự sơ thẩm về phần h nh phạt và phần xử lý vật chứng.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phi H phạm các tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; “Cố ý gây thương tích” và tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 134, điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 330, điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.
Căn cứ Điều 55 c a Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung cho ba tội, buộc bị cáo Nguyễn Phi H phải chấp hành 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù.
Căn cứ Điều 56 c a Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt đối v i bản án hình sự phúc thẩm số 127/2020/HS-PT ngày 11/5/2020 c a Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp xử phạt bị cáo 02 năm 03 tháng tù, buộc bị cáo Nguyễn Phi H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 28 tháng 11 năm 2019 nhưng được trừ đi thời gian tạm giam giữ từ ngày 01 7 2019 đến ngày 11/7/2019.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 c a Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Phi H 01 (một) xe mô tô biển số 6XHX- XXXXX, nhãn hiệu Ware anpha, do Nguyễn Phi H đứng tên. (Ông Nguyễn Văn T là người đại diện hợp pháp c a bị cáo nhận thay).
(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H, t nh Đ đang quản lý).
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 c a Bộ luật Tố tụng hình sự.
Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí h nh sự phúc thẩm.
3. Các phần khác c a quyết định ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ GĐKT 1); - VKSND T nh; - Ban nội chính T nh y; - Sở Tư pháp T nh; - Cơ quan THAH Công an T nh; - TAND TX. H (02 bản); - VKSND TX. H; - CCTHADS TX. H; - Cơ quan C ĐT CATX. H; - Trại tạm giam Công an T nh; - Phòng h sơ nghiệp vụ Công an T nh; - Phòng KTNV-THA Tòa án T nh; - Bị cáo, ĐDBC, NBC; - Lưu VT, H VA, (Nhựt Minh). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |