vanban.org

Bản án 144/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 06/05/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/05/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn T. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 20/2020/HS-ST ngày 21/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

Xử phạt bị cáo Nguyễn T 10 (mười) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”; thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2020. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn T phạm tội Chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn T. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 20/2020/HS-ST ngày 21/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2020/HS-PT
Ngày: 06-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hưng

Các Thẩm phán: Ông Vũ Thế Phương;

Ông Nguyễn Văn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Xuân Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 93/2020/TLPT-HS ngày 06 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn T và bị cáo Nguyễn Lê Tấn L; do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2020/HS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn T, tên gọi khác: không, sinh năm 1984, tại Đồng Nai; nơi đăng ký HKTT: ấp T, xã X, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: như trên; nghề nghiệp: thợ hàn; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn S, sinh năm 1945 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1945; có vợ là Nguyễn Thị Minh P, sinh năm 1987 (đã ly hôn); có 02 con sinh năm 2010 và năm 2013; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/01/2020 cho đến nay – có mặt.

Ngoài ra còn có bị cáo Nguyễn Lê Tấn L không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

- Người bào chữa cho bị cáo: ông Nguyễn Thanh T1, Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Năm Nam, Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 29-5-2019, Công an xã Xuân Thọ, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai nhận tin tố giác của bà Nguyễn Thị P về việc chồng bà là ông Nguyễn Dư C say rượu, có hành vi đập phá tài sản, la lối, gây mất an ninh trật tự ở ki ốt buôn bán của bà thuộc khu chợ Thọ Lộc, xã Xuân Thọ, huyện Xuân Lộc. Anh Đinh Ngọc V - Trưởng Công an xã Xuân Thọ phân công anh Võ Văn T2 và Lê Phi H là Công an viên Công an xã Xuân Thọ đến hiện trường để giải quyết vụ việc. Anh T2 và anh H mặc trang phục Công an xã, mang theo công cụ hỗ trợ 01 bình xịt hơi cay BX4, đến hiện trường, thấy ông C trong tình trạng say rượu, có lời nói, hành động gây mất an ninh trật tự. Anh T2 và anh H yêu cầu ông C chấm dứt hành vi gây rối, về nhà nghỉ nhưng ông C không chấp hành nên anh T2 và anh H đã khống chế để đưa ông C về nhà, ông C giằng co, không chấp hành. Lúc này, Nguyễn T (nhà đối diện với nhà ông C) chạy đến la lớn: “Công an đánh dân” rồi dùng tay chân đánh vào vùng mặt, bụng của anh T2. Nguyễn Lê Tấn L đang ngồi chơi tại nhà T thấy vậy cũng chạy đến lấy 01 bình xịt hơi cay để trên xe mô tô của anh H đánh 01 cái trúng vào lưng của anh T2, L nhặt 01 cái mũ bảo hiểm ở dưới đất đánh 02 cái trúng vào đầu anh T2 rồi nhặt 01 viên gạch ống ném vào người anh T2 nhưng không trúng. Sau đó, T và L bỏ đi.

Hậu quả: Anh Võ Văn T2 bị thương tích rách da vùng đầu, xây sát sưng phù nề vùng mặt và tay trái; 01 bình xịt hơi cay BX4 bị hư hỏng.

Vật chứng vụ án thu giữ:

- 01 viên gạch ống bị bể;

- 01 bình xịt hơi cay BX4 bị gãy đầu, là công cụ hỗ trợ thuộc sự quản lý của Công an xã Xuân Thọ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc đã trả lại cho Công an xã Xuân Thọ.

Về dân sự: anh Võ Văn T2 từ chối giám định thương tật, không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSXL ngày 24-12-2019, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, truy tố Nguyễn T và Nguyễn Lê Tấn L về tội: “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1, Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2020/HS-ST ngày 21-01-2020 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc đã áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”. Xử phạt bị cáo Nguyễn T 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2020.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Lê Tấn L, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 01/02/2020, bị cáo Nguyễn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa: Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thái về tội “Chống người thi hành công vụ” là có căn cứ, đúng pháp luật. Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo mức án 10 tháng tù là phù hợp, không nặng như bị cáo đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo T tại phiên tòa: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là không cần thiết. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: bị cáo Nguyễn T gửi đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn T khai nhận khoảng 22 giờ 30 phút ngày 29/5/2019, tại ki ốt của bà Nguyễn Thị P thuộc chợ Thọ Lộc, xã Xuân Thọ, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, bị cáo đã có hành vi dùng tay, chân đánh vào vùng mặt, bụng của anh Võ Văn T2 là Công an viên xã Xuân Thọ được phân công đến để ổn định trật tự do ông Nguyễn Dư C là chồng bà P uống rượu say, có hành vi đập phá tài sản, la lối, gây mất an ninh trật tự. Thấy vậy, bị cáo Nguyễn Lê Tấn L đang ngồi chơi tại nhà bị cáo cũng tham gia tấn công anh T2 với mục đích cản trở anh T2 thực hiện nhiệm vụ, trước đó giữa hai bị cáo không có bàn bạc, trao đổi gì với nhau về việc thực hiện hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có tại hồ sơ, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ’’, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo nhận thấy: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ cũng như sức khỏe của những người đang thi hành công vụ, xâm phạm đến hoạt động của nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm trên cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã ra đầu thú, là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con nhỏ nên đã áp dụng quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo mức án 10 tháng tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai hiện còn phải chăm sóc cha bị bệnh, ngoài ra thì không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác nên không có cơ sở để chấp nhận.

Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về quan điểm của người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy với tính chất và mức độ của hành vi bị cáo đã thực hiện thì việc cho hưởng án treo sẽ không đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo nên không có cơ sở để chấp nhận.

Về án phí: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn T. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 20/2020/HS-ST ngày 21/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn T 10 (mười) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”; thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2020.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ