- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Ngọc Đ pham tội "Cướp giật tài sản" theo quy đinh tại khoản 1 Điều 171 BLHS - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Áp d ng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017
- Căn cứ chính? luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 144/2019/HS-ST Ngày: 27/6/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG,TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Huy Liên
Bà Võ Thị Bời
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Lãm - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Châu Thị Kim Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2019, tại tr s Toà án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa m phiên tòa xét xử sơ thẩm v án hình sự th lý số 213/2019/HS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 159/2019/QĐXX-HS ngày 5 tháng 6 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2019/QĐXX-HS ngày 19 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
Ngô Ngọc Đ, sinh năm 1994; giới tính: Nam. Nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố số 4, thị trấn V, huyện V, tỉnh K. Nơi cư trú: Thôn Q 1, xã V, huyện V, tỉnh K Quốc tịch: Việt Nam ân t c: Kinh Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nuôi thủy sản; Trình đ văn hóa: 12/12 Con ông Ngô C, sinh năm 1962 Con bà Nguyễn Thị Thu , sinh năm 1965 Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp d ng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Nguyễn A - Chủ oanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng AT, trú tại 55 N, phường V, thành phố N. Vắng mặt
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Ngô C, sinh năm 1962 Trú tại: Thôn Q, xã V, huyện V, tỉnh K. Có mặt
- Ông Nguyễn Ngọc A Trú tại: 55 N, phường V, thành phố N, tỉnh K. Vắng mặt
* Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1959 Trú tại: 55 N, phường V, thành phố N, tỉnh K. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung v án được tóm tắt như sau:
o cần tiền tiêu dùng cho cá nhân nên Ngô Ngọc Đ nảy sinh ý định đến tiệm vàng A, số 55 đường N, phường V, thành phố Nha Trang, giả vờ hỏi mua vàng rồi tìm cách chiếm đoạt tài sản.
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/7/2018, Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79H1-327.91 đến dựng xe trên vỉa hè trước tiệm vàng A rồi đi vào trong tiệm. Đ gặp anh Nguyễn Ngọc A (là nhân viên bán hàng) hỏi mua 01 chiếc nhẫn vàng trọng lượng 01 lượng, nhưng anh Ngọc A nói không có và chỉ cho Đ 01 chiếc nhẫn vàng 99%, trọng lượng bảy chỉ hai phân m t ly tám. Anh Ngọc A báo giá 26.120.000đ. Đ cầm nhẫn đeo vào ngón tay và nói đồng ý mua. Để tạo điều kiện cho việc chiếm đoạt tài sản và tẩu thoát, Đ hỏi tiệm có thanh toán bằng thẻ ngân hàng không, anh Ngọc A nói có, rồi Đ lấy thẻ ATM từ trong ví ra đưa cho anh Ngọc A và nói trong thẻ chỉ có 20.000.000đ, còn 6.120.000đ để Đ ra cốp xe lấy, (thực chất trong thẻ ATM không có tiền), anh Ngọc A đồng ý. Đ đi ra dùng chìa khóa cắm vào ổ khóa rồi m ngăn đựng đồ dùng dưới yên xe lên giả vờ lấy tiền. Đ quan sát xung quanh thấy không có ai để ý mình nên đóng ngăn đựng đồ dùng của xe lại rồi nhanh chóng ngồi lên xe vừa lùi xe vừa bật chìa khóa dự định nổ máy bỏ chạy. Lúc này, do nghi ngờ nên anh Nguyễn Ngọc A cùng mọi người tri hô và giữ Đ lại nhưng Đ vẫn chạy thoát. Sau khi chạy được khoảng 10 mét, Đ sợ bị mất chiếc xe nên Đ quay lại trả chiếc nhẫn và xin lại xe nhưng anh Ngọc A không cho. Trong lúc chờ công an đến giải quyết, Đ lén bỏ chạy và để lại xe. Sau đó bị cơ quan công an triệu tập lên làm việc.
Tại Biên bản định giá tài sản số 302/HĐĐG ngày 27/1/2018 của H i đồng định giá trong tố t ng hình sự thành phố Nha Trang kết luận: 01 chiếc nhẫn vàng 99% mặt vuông, trị giá 26.123.000đ. (Hai mươi sáu triệu m t trăm hai mươi ba ngàn đồng).
Tại bản cáo trạng số 121/CT-VKSNT ngày 10/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Ngô Ngọc Đ về t i “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 B luật Hình sự.
Tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị H i đồng xét xử áp d ng khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Ngô Ngọc Đ mức án từ 1 năm đến 1 năm 6 tháng tù xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 thẻ ATM Agribank mang tên Ngô Ngọc Đ bu c bị cáo phải n p tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s n i dung v án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:
1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người bị hại, người làm chứng. Xét thấy việc vắng mặt của đương sự không gây tr ngại cho việc xét xử v án nên căn cứ vào các Điều 292, 293 B luật Tố t ng hình sự, H i đồng xét xử quyết định xét xử v án theo thủ t c chung.
2]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ t c tố t ng được quy định trong B luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố t ng khác không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. o đó, có đủ cơ s để khẳng định, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố là có tính khách quan và hợp pháp.
3]. Về nội dung: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Ngô Ngọc Đ khai nhận, do cần tiền tiêu xài vào m c đích cá nhân nên ngày 11/7/2018, bị cáo mượn xe của cha ru t là ông Ngô Có đi đến tiệm vàng Anh Tiến, số 55 đường Nguyễn Thái Học, phường Vạn Thạnh, thành phố Nha Trang. Tại đây, Đ đã dùng thủ đoạn để tiếp cận, nhận tài sản và tìm cơ h i thích hợp để nhanh chóng tẩu thoát bằng cách giả vờ hỏi mua vàng, giao thẻ thanh toán (không có tiền trong tài khoản), rồi giả vờ ra xe l c lọi để lấy tiền và tìm cách tẩu thoát. Khi Đ bật công tắc ổ khóa xe chuẩn bị kh i đ ng xe để bỏ chạy thì bị anh Ngọc A cùng người dân xung quanh bắt giữ. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa v liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành t i “Cướp giật tài sản”. T i phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 B luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo về t i “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 B luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng t i.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền s hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hư ng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm.
4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, , tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho người bị hại nên H i đồng xét xử cho bị cáo hư ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật hình sự, giảm cho bị cáo m t phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.
5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại vắng mặt nên tách ra để giải quyết bằng v án dân sự khi có yêu cầu. Người có quyền lợi nghĩa v liên quan có mặt không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
6]. Về vật chứng vụ án: Vật chứng đã xử lý trong giai đoạn điều tra H i đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 thẻ ATM Agribank mang tên Ngô Ngọc Đ: Xét là công c phương tiện phạm t i và không có giá trị sử d ng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp d ng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt: Bị cáo Ngô Ngọc Đ 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù về t i “Cướp giật tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
* Về trách nhiệm dân sự:
Tách ra để giải quyết bằng v án dân sự khác khi người bị hại có yêu cầu. Người có quyền lợi nghĩa v liên quan có mặt không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
* Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ ATM Agribank mang tên Ngô Ngọc Đ, theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố nha Trang và Chi c c thi hành án dân sự thành phố Nha Trang ngày 30/5/2019.
* Về án phí: Áp d ng Điều 136 B luật tố t ng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí tòa án bị cáo Ngô Ngọc Đ phải n p 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa v liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| * Nơi nhận: - VKSND TP. Nha Trang - Bị cáo, người bị hại - Công an TP. Nha Trang - TAN tỉnh Khánh Hòa - Chi c c THADS TP Nha Trang - S tư pháp tỉnh Khánh Hòa - Lưu án văn, hs | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Lệ |