vanban.org

Bản án 144/2019/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 26/09/2019 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/09/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận đơn kháng cáo của anh ĐMT. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 32/2019/HNGĐ-ST ngày 04/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, Hà Nội.

Về án phí: Anh ĐMT phải chịu 300.000đ án phí ly hôn phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số AA/2017/0009072 ngày 19/6/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh, Hà Nội. Án xử công khai phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./. VKSND Hà Nội; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "PTN - ĐMT"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận đơn kháng cáo của anh ĐMT. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 32/2019/HNGĐ-ST ngày 04/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, Hà Nội.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

————————
Bản án số: 144/2019/HNGĐ-PT
Ngày 26/9/2019
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Quyết Thắng

Các Thẩm phán:

Bùi Thị Thu Hồng

Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hằng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:

Bà Nguyễn Thị Thuý Hà - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 108/2019/LHPT ngày 05 tháng 8 năm 2019.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 32/2019/HNGĐ-ST ngày 04/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 207/2019/QĐ-PT ngày 29/8/2019 và Quyết định hoãn phiên toà số 104/2019/QĐ-PT ngày 18/9/2019, giữa:

*Nguyên đơn: Chị PTN, sinh năm 1983;

Địa chỉ: Thôn Thọ Xương, xã Đức Xương, Gia Lộc, Hải Dương.

*Bị đơn: Anh ĐMT, sinh năm 1975;

Trú tại: Thôn Bạch Đa, xã Kim Hoa, Mê Linh, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai chị PTN trình bày:

Chị và anh ĐMT kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 2005 tại UBND xã Kim Hoa, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, vợ chồng sang sinh sống ở nước Nga. Cuộc sống chung của vợ chồng những năm đầu hòa thuận, hạnh phúc. Sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tuổi tác chênh lệch, cách sống không hợp nhau, bất đồng nhau trong quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Giữa năm 2017 mâu thuân căng thẳng anh ĐMT về Việt Nam hai bên sống ly thân nhau, đến cuối năm 2018 chị cũng về Việt Nam sống nhưng hai bên không còn qua lại. Quá trình ly thân không ai hỏi thăm gì nhau và không có biện pháp nào để khắc phục tình cảm vợ chồng. Nay chị PTN xác định không còn tình cảm với anh ĐMT nữa, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn anh ĐMT.

Về con chung: Chị PTN và anh ĐMT có 02 con chung với nhau là là Đỗ Linh Phương, sinh ngày 26/3/2005 và Đỗ Hoàng Nam, sinh ngày 11/6/2013, hiện cả hai con chung đang ở với anh ĐMT. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con chung là Đỗ Hoàng Nam cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng còn để anh ĐMT nuôi cháu Đỗ Linh Phương, hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ: Chị PTN không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh ĐMT trình bày : Anh và chị PTN kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn năm 2005 tại UBND xã Kim Hoa, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, vợ chồng sang Nga làm ăn và sinh sống. Khoảng tháng 5/2017 thì vợ chồng cùng các con về nước. Sau đó, tháng 6/2017 thì chị PTN đã tự ý quay lại bên Nga mà không xin phép, trao đổi gì với anh. Vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Chị PTN đã bỏ chồng, con đi theo trai, không còn quan tâm đến gia đình. Trong thời gian sống ly thân cho đến này hai bên không có biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Nay chị PTN có đơn xin ly hôn, anh đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn.

Về con chung: Anh và chị PTN có hai con chung là Đỗ Linh Phương, sinh ngày 26/3/2005 và Đỗ Hoàng Nam, sinh ngày 11/6/2013, hiện cả hai con chung đang ở với anh. Ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung, anh yêu cầu chị PTN cấp dưỡng tiền nuôi 02 con chung mỗi tháng 3.000.000đ (ba triệu đồng).

Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ: Anh ĐMT yêu cầu chị PTN phải trả lại cho anh tiền và cửa hàng ở bên Nga. Ngoài ra không có yêu cầu nào khác.

Tại bản án số 32/2019/HNGĐ-ST ngày 04/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, Hà Nội đã xử và quyết định:

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị PTN. Chị PTN được ly hôn với anh ĐMT.

Chị PTN và anh ĐMT có hai con chung với nhau là Đỗ Linh Phương, sinh ngày 26/3/2005 và Đỗ Hoàng Nam, sinh ngày 11/6/2013, hiện các con chung đang ở với anh ĐMT.

Chị PTN được giao trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đỗ Hoàng Nam, sinh ngày 11/6/2013 cho đến khi con chung thành niên, đủ 18 tuổi (nếu không có sự thay đổi nào khác về việc nuôi con chung).

Anh ĐMT được giao trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đỗ Linh Phương, sinh ngày 26/3/2005 cho đến khi con chung thành niên, đủ 18 tuổi (nếu không có sự thay đổi nào khác về việc nuôi con chung).

Chị PTN và anh ĐMT không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Sau khi ly hôn hai bên có quyền qua lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 13/6/2019, anh ĐMT có đơn kháng cáo với nội dung: Xin được nuôi cả hai con và không yêu cầu chị PTN cấp dưỡng.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn là chị PTN vắng mặt hai lần không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Bị đơn là anh ĐMT không rút đơn kháng cáo.

Anh ĐMT trình bày: Hiện nay anh vẫn đang nuôi cả hai con, cháu Đỗ Hoàng Nam đã vào học lớp 1, anh có cửa hàng thu nhập hàng tháng khoảng 15 triệu đồng. Hiện chị PTN không có việc làm, ở đâu anh không rõ nên đề nghị cho anh được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu chị PTN phải cấp dưỡng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Chị PTN đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Toà án đưa ra xét xử là đúng quy định. Xét Đơn kháng cáo của anh ĐMT nằm trong thời hạn nên chấp nhận.

Về nội dung: Xét thấy anh chị có hai con chung nên Toà án cấp sơ thẩm đã giao mỗi người chăm sóc nuôi dưỡng một con là phù hợp với quy định của pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh ĐMT và đề nghị hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức: Xét đơn kháng cáo của của người kháng cáo nằm trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên chấp nhận.

Về nội dung: Xét thấy vợ chồng anh chị có hai con chung là Đỗ Linh Phương, sinh ngày 26/3/2005 và Đỗ Hoàng Nam, sinh ngày 11/6/2013. Toà án cấp sơ thẩm đã giao cho mỗi người chăm sóc nuôi dưỡng một con là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh ĐMT và giữ nguyên bản án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về án phí: Anh ĐMT phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của anh ĐMT. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 32/2019/HNGĐ-ST ngày 04/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, Hà Nội.

2. Về án phí: Anh ĐMT phải chịu 300.000đ án phí ly hôn phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số AA/2017/0009072 ngày 19/6/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh, Hà Nội. Án xử công khai phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ