- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh T phạm tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy" - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Căn ứ vào điểm b khoản 3 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 144/2018/HS-ST Ngày: 17 - 10 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Xuân Thanh
Ông Trần Huy Lợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trà Giang. Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 127/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2018/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Trần Minh T; Tên g i há : không; Giới tính: Nam; Sinh ngà : 11/8/1976 tại T, tỉnh Nghệ An; Nơi ư trú : 105/13 N, Tổ 11, khu phố 4, phường 7 thành phố V, tỉnh B; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ h c vấn: 12/12; con ông: Trần Minh C, sinh năm 1940 và bà Trần Thị T sinh năm 1950; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1984; Con: ó 01 người, sinh năm 2009; Tiền sự: không; Tiền án: Năm 2016, Tòa án nhân dân thành phố Vinh xử phạt 15 tháng tù về hành vi mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án số 61/2016/HS-ST ngày 14/3/2016. Chấp hành xong án phạt tù ngày 25/01/2017; Nhân thân: Năm 2002, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy theo bản án số 33/HSST ngày 22/01/2002. Ngày 01/02/2005, Trần Minh T đượ đặc xá tha thời trước thời hạn. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. Có mặt
Luật sư bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo; Văn phòng luật sư Lê Anh; Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An - có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 23/5/2018, Trần Minh T đang ở phòng 301, khách sạn T, thuộ phường H, thành phố V thì một người đàn ông tên K (ở phường V, thành phố V) g i điện hỏi: "Anh có ở thành phố V không?", Tùng trả lời: "đang ở khách sạn T, phường H", K nói: "để em đến chơi với anh". Khoảng 15 phút sau, K g i điện thông báo hông đến được và nói "có thằng em đưa ma túy đến cho anh sử dụng và cầm hộ một gói ma túy", T đồng ý. K nói với T xuống sảnh đợi sẽ có người mang đến. T xuống sảnh khách sạn đợi, khoảng 10 phút sau, có 01 nam thanh niên đội mũ bảo hiểm, đeo hẩu trang, đi xe má WAVE màu trắng đến (T không nhớ biển kiểm soát). Người này hỏi: "Anh có phải anh T không?", T nói: "Đúng", người nà đưa ho T một túi giấ bên trong ó 02 (hai) gói ma tú đá (một gói to và một gói nhỏ đều được gói bằng gói ni lông màu trắng). T cầm gói ma túy lên phòng khách sạn. Một lúc sau, K g i điện cho T nói 02 gói ma túy thì gói nhỏ cho T sử dụng còn gói to nhờ T cầm hộ. T lấy gói ma túy nhỏ rồi dùng giấy bạc sử dụng hết. Đến 22 giờ cùng ngày, K g i điện cho T nói K đang bận nên nhờ T đưa ma tú đến đường N, thuộ phường Đ cho K. Tùng lấy gói ma túy cất vào trong túi quần bên trái phía trước rồi đi xe má đến điểm hẹn. Khoảng 22 giờ 30 phút, khi vừa đến ngã tư đường T giao với đường Nguyễn T thuộ phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An thì bị lự lượng Cảnh sát Cơ động Công an tỉnh Nghệ An kiểm tra, bắt giữ. Tang vật thu giữ là 01 gói potylen màu trắng chứa các tinh thể màu trắng (nghi ma tú ) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.
Kết luận giám định số 681/KL-PC54 (MT) ngày 28/5/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An cho kết quả:
"Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Minh T gửi tới giám định là Ma túy (Methamphetamine). Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Minh T có khối lượng là 49,755 g (Bốn mươi chín phẩy bảy trăm năm mươi lăm gam)".
Về vật chứng gồm:
+ 49,755 gam ma túy (Methamphetamine), đã lấ đi 7,370 gam để giám định, còn lại 42,385 gam.
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. IMELL: 355399075343415.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
Bản cáo trạng số 152/CT- VKS- P1 ngày 13 tháng 9 năm 2018, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “ Vận chuyển trái phép chất ma tú ” theo điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng đã tru tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Trần Minh T 16 đến 17 năm tù về tội “ Vận chuyển trái phép chất ma tú ”. Bị áo hưa thu lợi bất chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy chất ma túy thu giữ của bị cáo; tịch thu, hóa giá sung quỹ nhà nướ 01 điện thoại di động của bị cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí theo qu định của pháp luật.
Phần tranh luận:
Luật sư bào hữa cho bị cáo không tranh luận về phần tội danh mà bị cáo bị truy tố và xét xử, tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hình vi phạm tội của mình, bị cáo có thành tích phát hiện tội phạm, bà ngoại có công với Nhà nước, được tặng thưởng huân hương háng hiến. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp hơn mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Bị áo đồng ý với lời bào chữa của luật sư, hông ó ý iến gì tranh luận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên ơ sở nội dung vụ án, ăn ứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh T thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã qu ết. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậ , ó đủ ăn ứ khẳng định: Ngày 23/5/2018, Trần Minh T vận chuyển 49,755 gam ma túy (Methamphetamine) từ khách sạn T, thuộ phường H, thành phố V đến đường N, phường Đ, thành phố V cho một người đàn ông tên là K thì lự lượng Cảnh sát Cơ động bắt quả tang.
Tại Bản kết luận giám định số 681/KL-PC54 (MT) ngày 28/5/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An: "Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Minh T gửi tới giám định là Ma túy (Methamphetamine). Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Minh T có khối lượng là 49,755 g (Bốn mươi hín phẩy bả trăm năm mươi lăm gam)". Với hành vi trên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “ Vận chuyển trái phép chất ma tú ” theo điểm b khoản 3 điều 250 Bộ luật hình sự 2015 là ó ăn ứ, đúng người, đúng pháp luật.
Xét các tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Ngày 14/3/2016, bị cáo Trần Minh T bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” hưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội do cố ý, đâ là tình tiết tăng nặng “Tái phạm” đượ qu định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra ũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; do đó ần xem xét áp dụng tình tiết theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Ngoài ra, bị cáo và luật sư ó hai nại bà ngoại của bị áo đượ Nhà nước tặng thưởng Huân hương háng hiến và bị cáo thành tích phát hiện tội phạm, nhưng không có tài liệu chứng minh, bị cáo không thuộc đối tượng đượ hưởng tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét về hành vi tính chất phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vụ án thuộ trường hợp đặc biệt nghiêm tr ng, tội phạm ma túy gây tác hại nghiêm tr ng đến trật tự an ninh xã hội, gây suy thoái giống nòi, phá hoại hạnh phúc và kinh tế gia đinh, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện. Bị cáo nhận thứ được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có một tiền án và nhân thân về tội “Mua bán trái phép hất ma tú ” tu nhiên không lấ đó làm bài h để tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần có mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong thời gian đủ dài, để răn đe người phạm tội và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị áo hưa thu lợi bất chính, hoàn cảnh kinh tế gia đình hó hăn, hông ó hă năng thi hành án phạt tiền bổ sung nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Ma túy là chất Nhà nước cấm lưu hành nên ần tịch thu tiêu hủ ; điện thoại di động có liên quan đến phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung vào ngân sá h Nhà nước
Đối với người đàn ông tên K là người nhờ Tùng vận chuyển ma túy, qua điều tra xá minh là Lê Văn K, sinh năm 1984, trú tại khối T, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Cơ quan điều tra đã triệu tập lấy lời hai nhưng K không thừa nhận việc nhờ T vận chuyển ma túy, mặt khác K ũng hông phải là người trực tiếp đưa ma tú ho T nên ơ quan điều tra hông đủ ăn ứ để xử lý K trong cùng vụ án này nên Hội đồng xét xử hông ó ăn ứ xem xét.
Đối với nam thanh niên đưa ma tú đến cho T, do T không biết rõ tên tuổi và địa chỉ cụ thể nên ơ quan điều tra hông đủ ăn ứ để xử lý Tòa án không xem xét.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan ảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của ơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, á hành vi, qu ết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo qu định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn ứ vào điểm b khoản 3 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015
Xử phạt bị cáo Trần Minh T 15 (Mười lăm) năm tù về tội “ Vận chuyển trái phép chất ma tú ”. Thời hạn từ tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 23/5/2018. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo Trần Minh T.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Tịch thu tiêu hủy 49,755 gam ma túy (Methamphetamine), đã lấ đi 7,370 gam để giám định, còn lại 42,385 gam.
Tịch thu hóa giá sung vào ngân sá h Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, đã qua sử dụng của bị cáo Trần Minh T.
Đặ điểm tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Nghệ An và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An ngày 14/9/2018.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ ban thường vụ Quốc hội qu định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử có mặt bị cáo, bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại HN - VKSND tỉnh Nghệ An - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Nghệ An - Cục THADS tỉnh Nghệ An - Bị cáo, luật sư - UBND phường B, TP V - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Trang |