vanban.org

Bản án 144/2018/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 03/10/2018 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Phạm Văn H, bà Nguyễn Thị T.

Giữ nguyên quyết định của b n án hành chính sơ thẩm s 43/2017/HCST ngày 28 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. ăn cứ Điều 69 Luật Đất đ i năm 2013, Điều 193, Điều 348 Luật Tố tụng àn c ín năm 2015, Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy b n ường vụ Quốc hội q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Phạm Văn H, bà Nguyễn Thị T.
TÒA ÁN NHÂN DÂN C P CAO
T I Đ N NG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n án s : 144/2018/HC-PT
Ngày 03/10/2018
V/v: “khiếu kiện quyết định
cưỡng chế thu hồi đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN C P CAO T I Đ N NG

- Thành ph n H i đ ng xét x phúc th m g m có:

m p n – ủ t p i n t : Ông Mai Xuân Thành.

c

m p n:

Ông Lê Phước Thanh.

Bà Lê Thúy Cầu.

- Th ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo - Thư k Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà N ng.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân c p cao t i Đà N ng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Chánh - Ki m sát viên.

Ngày 03 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà N ng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý s 103/2017/TLPT-HC ngày 04 tháng 12 năm 2017 về việc “khiếu kiện quyết địn cưỡng chế thu hồi đất”. Do B n án hành chính sơ thẩm s s 43/2017/HCST ngày 28 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.

Giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Phạm Văn H – Sinh năm 1957

Bà Nguyễn Thị T – Sinh năm 1963

Địa chỉ: S 182, Tổ 14, thôn T, xã V, thành ph N, tỉnh Khánh Hòa. Ông H và bà T đều có mặt.

2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố N. Có đơn xin vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củ người bị kiện:

- Bà Hồ Thị H2 - Phó Phòng Tài nguyên và Môi trường thành ph N, Có mặt.

- Bà Lê Phương A – Nhân viên Phòng tài nguyên và Môi trường thành ph N, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Ông Phạm Hải T1 – Trưởng phòng Gi i phóng mặt bằng thuộc ban qu n lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát tri n nông thôn tỉnh Khánh Hòa, Có mặt.

3. Người có quyền lợi, ng ĩ vụ liên quan:

- Bà Phạm Thị Hoàng Y – Sinh năm 1985

- Bà Phạm Thị Bích T2 – Sinh năm 1987

- Ông Phạm Đỗ Đ – Sinh năm 1991

- Ông Phạm Đỗ T3 – Sinh năm 1994

- Ông Phạm Đỗ Nhật T4 – Sinh năm 1998

- Bà Tạ Thị Ngọc H1 – Sinh năm 1997

Cùng địa chỉ: S 182, Tổ 14, thôn T, xã V thành ph N, tỉnh Khánh Hòa. Đều vắng mặt.

Người kháng cáo : Ông Phạm Văn H, bà Nguyễn Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/3/2014, Ủy ban nhân dân thành ph N ban hành Quyết định s 709/QĐ-UBND về việc thu hồi đất hộ gia đình ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị T đ thực hiện dự án hệ th ng thoát lũ từ cầu PV về đến đầu sông Tắc, thành ph N.

Ngày 17/4/2014, Ủy ban nhân dân thành ph N ban hành Quyết định s 929/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ gi i phóng mặt bằng và ngày 03/8/2015, ban hành Quyết định s 2489/QĐ-UBND về việc phê duyệt bổ sung kinh phí bồi thường, hỗ trợ gi i phóng mặt bằng đ i với hộ gia đình ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị T.

Ngày 24/11/2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành ph N ban hành Quyết định s 8327/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất đ i với hộ gia đình ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị T đ thực hiện dự án hệ th ng thoát lũ từ cầu PV về đến đầu sông Tắc, thành ph N.

Ngày 22/11/2016, ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định s 8327/QĐ-UBND ngày 24/11/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành ph N.

Kèm theo đơn khởi kiện, ông H và bà T đã giao nộp b n sao các văn b n: Quyết định cưỡng chế thu hồi đất s 8327/QĐ-UBND ngày 24/11/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành ph N, Văn b n s 130/HĐ T ngày 20/5/2014 của Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư dự án hệ th ng thoát lũ từ cầu PV về đến đầu sông Tắc về việc tr lời đơn ông Nguyễn Tấn S (đại diện tập th ), Chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu; b n photo các văn b n: Quyết định thu hồi đất s 709/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành ph N và Thông báo áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án Quyết định thu hồi đất s 965/TB-UBND ngày 18/11/2016.

Tại đơn k ởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án tuyên hủy Quyết định số 8327/QĐ-UBND ngày 24/11/2015 về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị T để thực hiệc dự án hệ thống t o t lũ từ cầu PV về đến đầu sông Tắc, thành phố N và trình bày:

Căn cứ văn b n s 130/HĐ T ngày 20/5/2014 của Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư dự án hệ th ng thoát lũ từ cầu PV về đến đầu sông Tắc về việc tr lời đơn ông Nguyễn Tấn S (đại diện tập th ), hội đồng đã xác định kênh thoát lũ từ cầu PV về đến đầu sông Tắc có chiều rộng đáy kênh từ 70m đến 75m, chiều rộng mặt đê 6,0m. Tổng cộng, đáy kênh và mặt đê rộng kho ng 81m. Thực tế, dự án đã làm đáy kênh có chiều rộng trên 94m nhưng vẫn chưa đến đất của gia đình ông, bà. Vì vậy, thửa đất của ông, bà nằm ngoài phạm vi dự án hệ th ng thoát lũ từ cầu PV về đến đầu sông Tắc, thành ph N. Quyết định s 8327/QĐ-UBND ngày 24/11/2015 do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành ph N ban hành là không đúng pháp luật. Ngoài ra, các ông, bà không có l do gì khác và cũng không có yêu cầu khởi kiện nào khác.

Ông H và bà T đề nghị không đưa 06 người con của các ông, bà gồm Phạm Thị Hoàng Y, Phạm Thị Bích T2, Phạm Đỗ Đ, Phạm Đỗ T3, Phạm Đỗ Nhật T4, Tạ Thị Ngọc H1 vào tham gia t tụng vì đây là vụ án kiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất do đất nằm ngoài phạm vi dự án, không ph i là vụ án chia thừa kế hay chia tài s n chung. Sáu (06) người con của các ông, bà đã k tên trong đơn trình bày, nhờ các ông, bà nộp cho Tòa án và các ông, bà đã giao nộp đầy đủ.

Tại c c văn bản gửi Tòa án và trong quá trình giải quyết vụ n, người bị kiện trình bày:

Căn cứ Quyết định s 1825/QĐ-UB ngày 27/10/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc phê duyệt dự án đầu tư công trình hệ th ng thoát lũ từ cầu PV về đến đầu sông Tắc, thành ph N, Hồ sơ địa chính đ i với khu đất thực hiện dự án, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s 00534 QSDĐ/VT-NT ngày 08/12/1998 do Ủy ban nhân dân thành ph N cấp cho hộ ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị T, Biên b n ki m kê kh i lượng gi i tỏa ngày 08/9/2009, Hồ sơ kỹ thuật thửa đất và Giấy xác nhận nguồn g c đất s 806/XN-UBND ngày 23/12/2013 của Ủy ban nhân dân xã V, diện tích 548,8m2 đất tại thôn T, xã V, thành ph N, tỉnh Khánh Hòa thuộc một phần thửa đất s 681, tờ b n đồ địa chính s 4, xã V (tương ứng một phần thửa đất s 163 – m nh s 3, b n đồ Trích đo địa chính khu đất s 08/2010/TĐ Đ do Xí nghiệp đo đạc b n đồ - chi nhánh Công ty Địa chính Khánh Hòa thiết lập và Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa xác nhận ngày 29/3/2010) do hộ ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị T sử dụng thuộc dự án hệ th ng thoát lũ từ cầu PV về đến đầu sông Tắc, thành ph N ph i thu hồi.

Ủy ban nhân dân thành ph N đã ban hành Quyết định s 709/QĐ-UBND ngày 19/3/2014 về việc thu hồi đất, Quyết định s 929/QĐ-UBND ngày 17/4/2014 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ gi i phóng mặt bằng và Quyết định s 2489/QĐ-UBND ngày 03/8/2015 về việc phê duyệt bổ sung kinh phí bồi thường, hỗ trợ gi i phóng mặt bằng đ i với hộ gia đình ông H và bà T.

Ủy ban nhân dân thành ph N và các đoàn th đã nhiều lần thông báo, vận động hộ ông H và bà T nhận tiền, nhận đất tái định cư và bàn giao mặt bằng nhưng hộ ông H không đồng ý và không bàn giao mặt bằng.

Ngày 24/11/2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành ph N ban hành Quyết định s 8327/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất đ i với hộ gia đình ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị T đ thực hiện dự án hệ th ng thoát lũ từ cầu PV về đến đầu sông Tắc, thành ph N.

Việc thu hồi đất và ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất được thực hiện theo đúng trình tự pháp luật quy định. Vì vậy, người bị kiện không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

Với nội dung nêu trên tại Bản án àn c ín sơ t m số số 43/2017/HCST ngày 28 t ng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉn K n H đã quyết định.

ăn cứ Điều 69 Luật Đất đ i năm 2013, Điều 193, Điều 348 Luật Tố tụng àn c ín năm 2015, Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy b n ường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Bác toàn bộ yêu cầu của ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị T đ i với yêu cầu hủy Quyết định s 8327/QĐ-UBND ngày 24 tháng 11 năm 2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành ph N về việc cưỡng chế thu hồi đất đ i với hộ gia đình ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị T đ thực hiện dự án hệ th ng thoát lũ từ cầu PV về đến đầu sông Tắc, thành ph N.

Án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 4 tháng 10 năm 2017 ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị T kháng cáo toàn bộ b n án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay ông Phạm Văn H, bà Nguyễn Thị T, vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện và đơn kháng cáo.

Trong phần phát bi u quan đi m về việc gi i quyết vụ án đại diện Viện ki m sát nhân dân cấp cao tại Đà N ng cho rằng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và hội đồng xét xử chấp hành đúng các quy định của Luật T tụng hành chính, các đương sự thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Phạm Văn H, bà Nguyễn Thị T, giữ nguyên quyết định của b n án sơ thẩm.

Căn cứ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết qu tranh tụng tại phiên tòa.Trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan toàn diện và đầy đủ chứng cứ, ý kiến của Viện ki m sát. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Dự án hệ th ng thoát lũ từ cầu PV về đến đầu sông Tắc, thành ph N được tri n khai thực hiện theo Quyết định s 1825/QĐ-UBND ngày 27/10/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc phê duyệt dự án đầu tư công trình hệ th ng thoát lũ từ cầu PV về đến cầu sông Tắc. Theo Quyết định s 1825/QĐ-UBND, chủ đầu tư dự án là Ban Qu n lý dự án các công trình giao thông – thủy lợi đã ban hành Quyết định s 74/QĐ-QLDA ngày 19/01/2010 về việc phê duyệt hồ sơ thiết kế b n vẽ thi công và dự toán công trình hệ th ng thoát lũ từ cầu PV về đến đầu sông Tắc. Tại Điều 2 Quyết định s 74/QĐ-QLDA có nội dung:“ iết kế bản vẽ t i công được phê duyệt là căn cứ để thi công xây dựng”.

Đ thực hiện dự án, Ủy ban nhân dân thành ph N đã ban hành Quyết định s 709/QĐ-UBND ngày 19/3/2014 về việc thu hồi đất, Quyết định s 929/QĐ-UBND ngày 17/4/2014 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ gi i phóng mặt bằng và Quyết định s 2489/QĐ-UBND ngày 03/8/2015 về việc phê duyệt bổ sung kinh phí bồi thường, hỗ trợ gi i phóng mặt bằng đ i với hộ gia đình ông H và bà T. Ông H và bà T đã khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định s 929/QĐ-UBND nêu trên và Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã ban hành b n án phúc thẩm s 02/2016/HC-PT ngày 10/5/2016, bác yêu cầu khởi kiện của ông H, bà T, đồng thời, xác định rõ không có cơ sở xác định đất của Ông, Bà bị thu hồi nằm ngoài dự án. Như vậy quyết định hành chính về việc thu hồi đất, và quyết định phê duyệt kinh phí bồi thường hỗ trợ gi i phóng mặt bằng đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, th hiện ông H và bà T đã nhiều lần được thông báo, vận động đ nhận tiền, nhận đất tái định cư và bàn giao mặt bằng nhưng hộ ông H không đồng ý và không bàn giao mặt bằng. Vì vậy, việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành ph N ban hành quyết định s 8327/QĐ-UBND ngày 24/11/2015 về việc cưỡng chế thu hồi đất đ i với hộ gia đình ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị T đ thực hiện dự án hệ th ng thoát lũ từ cầu PV về đến đầu sông Tắc, thành ph N là đúng thẩm quyền và phù hợp với quy định tại Điều 69 và kho n 3 Điều 71 Luật Đất đai năm 2013. Quá trình thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất là đúng trình tự quy định. Trong hồ sơ vụ án th hiện hộ gia đình ông H đã nhiều lần được chính quyền xã, thôn cùng ban gi i phóng mặt bằng t ng đạt thông báo cưỡng chế nhưng hộ gia đình không nhận. Ngày 24 tháng 11 năm 2016 chính thức có văn b n thực hiện việc cưỡng chế xong.

B n án sơ thẩm đã xem xét đánh giá chứng cứ, căn cứ vào các quy định của pháp luật, đ không chấp nhận đơn khởi kiện của ông H là có căn cứ đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm ông H, bà T không cung cấp chứng cứ nào mới cần được xem xét, do vậy đơn kháng cáo của ông H, bà T không có căn cứ chấp nhận.

Án phí: Ông Phạm Văn H, bà Nguyễn Thị T ph i chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ nêu trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ kho n 1 Điều 241 Luật t tụng hành chính.

Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Phạm Văn H, bà Nguyễn Thị T.

Giữ nguyên quyết định của b n án hành chính sơ thẩm s 43/2017/HCST ngày 28 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

ăn cứ Điều 69 Luật Đất đ i năm 2013, Điều 193, Điều 348 Luật Tố tụng àn c ín năm 2015, Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy b n ường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Bác toàn bộ yêu cầu của ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị T đ i với yêu cầu hủy Quyết định s 8327/QĐ-UBND ngày 24 tháng 11 năm 2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành ph N về việc cưỡng chế thu hồi đất đ i với hộ gia đình ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị T đ thực hiện dự án hệ th ng thoát lũ từ cầu PV về đến đầu sông Tắc, thành ph N.

2. Về án phí: Ông Phạm Văn H, bà Nguyễn Thị T ph i chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án s AA/2016/0000369 ngày 19 /10/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật k từ ngày hết hạn kháng cáo kháng nghị.

B n án có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ