- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Mỹ H - Huỳnh Quốc N"
- Tòa quyết gì? 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| THÀNH PHỐ HỐ CHÍ MINH _____________________ Bản án số: 1431/2019/HNGĐ-ST Ngày: 30-10-2019 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thành Viên.
2. Ông Lê Bá Hợp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hải Oanh – Kiểm sát viên.
Ngày 30/10/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, xét xử sơ thẩm công khai
vụ án thụ lý số 713/2019/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 6 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn”
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 713/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm
2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 713/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 9 năm 2019
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Mỹ H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số 87/23 đường Nguyễn
Thái Sơn, Phường 4, quận G, Thành phố H (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Quốc N, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số 87/23 đường Nguyễn
Thái Sơn, Phường 4, quận G, Thành phố H (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 6 năm 2019 và trong quá trình giải quyết vụ án
nguyên đơn bà Hoàng Mỹ H trình bày:
Bà và ông Huỳnh Quốc N kết hôn vào năm 2009, đăng ký kết hôn tại UBND Phường
4, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Hạnh phúc gia đình đến năm 2013 thì phát sinh
mâu thuẫn. Nguyên nhân là do mâu thuẫn trong cách nuôi dạy con cái, quan điểm sống nên
thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau trước mặt con cái, có khi không kiềm chế cơn
nóng giận, ông N dùng bạo lực đánh bà, đập phá đồ đạc trong nhà trước sự chứng kiến của
con trẻ, hai người đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ
chồng không còn, nên bà xin ly hôn với ông N để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Có hai con chung tên Huỳnh Quốc Gia Khang sinh ngày 16/12/2009,
Huỳnh Quốc Gia Minh sinh ngày 06/8/2011. Bà H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung bà khai không có.
Bị đơn ông Huỳnh Quốc N mặc dù đã được tống đạt hợp lệ vẫn không đến Tòa án, do
đó Tòa án không tiến hành lấy lời khai cũng như tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải được. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm
phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như
tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đúng các Điều 70 và 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho nguyên đơn bà Hoàng Mỹ H
được ly hôn với ông Huỳnh Quốc N. Về con chung: Giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Về tài sản chung, nợ chung không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội
đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
Yêu cầu xin ly hôn của bà Hoàng Mỹ H đối với ông Huỳnh Quốc N là quan hệ tranh
chấp về hôn nhân gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về người tham gia tố tụng:
Ông N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên
tòa. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông N là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu của đương sự:
Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 070, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân
Phường 4, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông N, bà H ngày 08/9/2009 đã xác định quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà H là quan hệ hôn nhân hợp pháp được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Bà H yêu cầu được ly hôn với ông N vì cho rằng do mâu thuẫn trong cách nuôi dạy
con cái, quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau trước mặt con cái,
có khi không kiềm chế cơn nóng giận, ông N dùng bạo lực đánh bà, đập phá đồ đạc trong
nhà trước sự chứng kiến của con trẻ, hiện ông N, bà H đã ly thân từ năm 2015 cho đến
nay.
Ông N đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa để tiến hành hòa giải đoàn tụ gia
đình, nhưng ông N vẫn không đến Tòa án theo giấy triệu tập, cũng không có ý kiến gì về
yêu cầu ly hôn của bà H. Điều này thể hiện ông N không quan tâm đến chuyện hàn gắn
tình cảm vợ chồng, bỏ mặc cho Tòa án giải quyết.
Xét thấy hôn nhân là sự tự nguyện, mục đích của hôn nhân là xây dựng một gia đình
ấm no, hạnh phúc, bền vững, là sự nỗ lực phấn đấu, xây dựng của cả hai bên vợ chồng.
Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ chồng có nghĩa vụ sống chung
với nhau, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong
gia đình. Nhưng giữa bà H và ông N đã không còn sống chung với nhau. Nay bà H kiên
quyết xin ly hôn cho thấy hôn nhân giữa bà H và ông N đã rơi vào tình trạng trầm trọng,
đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà H yêu
cầu giải quyết ly hôn với ông N là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với Điều 56 của Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.
Về con chung: Bà H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông N
cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy việc giao con cho ai nuôi là căn cứ vào quyền lợi mọi mặt
của con. Tại bản tự khai trẻ Khang, trẻ Minh trình bày có nguyện vọng muốn ở với bà H.
Tuy nhiên ông N không đến Tòa án, cũng không có ý kiến gì về con chung. Hiện nay bà H
đang trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Khang, trẻ Minh. Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong việc
chăm sóc, giáo dục con, Hội đồng xét xử nghĩ chấp nhận yêu cầu của bà H giao con chung
cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà H khai không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên
đơn là có cơ sở.
Án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng bà H chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b
khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình
năm 2014;
- Căn cứ khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Mỹ H đối với ông Huỳnh Quốc N.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Mỹ H được ly hôn với ông Huỳnh Quốc N (Giấy
chứng nhận kết hôn số 070, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường 4, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông N, bà H ngày 08/9/2009 không còn giá trị).
- Về con chung: Giao trẻ Huỳnh Quốc Gia Khang sinh ngày 16/12/2009, Huỳnh Quốc
Gia Minh sinh ngày 06/8/2011 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông N đến khi nào bà H có đơn yêu cầu.
Ông N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu lạm dụng
việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông N. Trên cơ sở lợi ích của con chung, khi cần thiết ông N, bà H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà H khai không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng bà H chịu, được cấn trừ vào số
tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/0000834 ngày 07/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Bà H đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên
án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q.Gò Vấp; - CCTHADS Q.Gò Vấp; - UBND Phường 4, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Đình Tiến |