vanban.org

Bản án 143 — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết N về việc tranh chấp về hụi với bà Phạm Thị Thùy T, ông Hồ Văn L.

Buộc bà Phạm Thị Thùy T, ông Hồ Văn L phải liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Tuyết N số nợ gốc là 100.595.000 đồng. Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án, bên có nghĩa vụ chậm thi hành án thì phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết N về việc tranh chấp về hụi với bà Phạm Thị Thùy T, ông Hồ Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 133 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 138 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án: 143/2024/DSST
Ngày: 25-6-2024
V/v: “tranh chấp về hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Thức.

Hội Thẩm nhân dân:

- Bà: Trần Thị Đổi.

- Ông: Nguyễn Chí Lin.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Hiền– Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 465/2024/TLST-DS ngày 20/5/2024 về việc tranh chấp về hụi. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2024/QĐST-DS ngày 06/6/2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1969;

Địa chỉ: Ấp G, xã M, Đ, tỉnh Long An.

2. Bị đơn:

2.1. Ông Hồ Văn L, sinh năm 1972;

2.2. Bà Phạm Thị Thùy T, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp G, xã M, Đ, tỉnh Long An. Tạm trú: Ấp N, xã Đ, Đ, tỉnh Long An. (Các đương sự có mặt, ông L xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/3/2024, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện 05/6/2024 và quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Tuyết N trình bày: Nguyên vào các năm 2022, 2023 bà N có tham gia hụi do bà T làm chủ thảo, tổng cộng 10 dây hụi, mỗi dây hụi bà tham gia 01 phần, đóng được nhiều kỳ hụi sống nhưng chưa được hốt hụi sau đó thì bà T tuyên bố ngưng hụi. Nay bà N khởi kiện yêu cầu bà T, ông L (chồng của bà T) phải liên đới trả cho bà số nợ gốc hụi của 10 dây hụi, tổng số tiền là 100.595.000 đồng và yêu cầu trả một lần vì bà T khui hụi tại nhà có ông L biết, chứng kiến, nhiều lần ông L cùng vợ ghi gom tiền hụi của các hụi viên. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà T trình bày: bà xác nhận có tổ chức hụi, bà N là hụi viên tham gia hụi từ năm 2022 đến năm 2023 thì hụi bị ngưng, còn nợ tiền của bà N 10 dây hụi, tổng số tiền là 100.595.000 đồng, xin trả vào ngày 05/10/2024. Bà T cho rằng ông L không liên quan, không biết gì đến việc bà tổ chức hụi, gom hụi. Số tiến hụi bà dùng vào việc xoay hụi, ụp hụi cho các dây hụi, các hụi viên khác mặc dù ông L nhiều lần cùng bà đi gom, giao tiền hụi nhưng ông L không biết cụ thể số tiền hụi, không biết bà dùng tiền hụi có được vào việc gì. Do đó bà T không đồng ý để ông L liên đới trả nợ hụi trên.

Ông L xin xét xử vắng mặt nhưng tại bản tự khai ông trình bày: Ông và bà T là quan hệ vơ chồng nhưng đã ly hôn vào tháng 4 năm 2024, không đồng ý liên đới trả nợ theo yêu cầu của nguyên đơn vì cho rằng ông không biết gì về việc bà T tổ chức hụi, gom tiền hụi của các hụi viên.

Tòa án có tiến hành hòa giải nhưng các bên không thống nhất ý kiến.

Tại phiên tòa, bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ theo pháp luật tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung: bà N yêu cầu bà T và ông L phải liên đới trả số nợ hụi 100.595.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án bà T thừa nhận còn nợ của bà N số tiền trên. Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ, xét thấy tuy ông L cho rằng không biết, không liên quan gì đến việc chơi hụi giữa các bên nhưng tại thời điểm phát sinh giao dịch hụi thì ông L, bà P là quan hệ vợ chồng. Do vậy, bà T và ông L phải liên đới trả số nợ 100.595.000 đồng cho bà N là có căn cứ, phù hợp với Điều 27, Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp,

Bà Nguyễn Thị Tuyết N khởi kiện bà Phạm Thị Thùy T và ông Hồ Văn L về việc đòi nợ hụi. Bà T, ông L hiện đang cư trú tại xã M, Đ, Long An. Quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng góp hụi, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại các điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về xét xử vắng mặt: Ông Hồ Văn L có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục chung là đúng với quy định tại các điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.] Về pháp luật áp dụng: Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

. Về nội dung vụ án,

Xét yêu cầu khởi kiện của bà N,

Hội đồng xét xử thấy rằng từ năm 2022 đến năm 2023 bà Phạn Thị Thùy T1 có tổ chức thảo hụi, bà Nguyễn Thị Tuyết N là hụi viên, tham gia rất nhiều phần hụi do bà T1 làm chủ thảo và còn nợ lại bà N số tiền 100.595.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án bà T1 cũng thừa nhận số nợ trên, đây là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về trách nhiệm liên đới:

Bà N yêu cầu ông Hồ Văn L là chồng bà T1 phải liên đới trả số nợ trên, ông L không đồng ý liên đới trả nợ vì ông cho rằng hoàn toàn không biết việc chơi hụi giữa các bên.

Xét thấy, quá trình tham gia hụi của bà N từ năm 2022, 2023 thì ông L và bà T1 vẫn là quan hệ vợ chồng. Mặc khác, theo lời trình bày của các bên thì bà T1 tổ chức khui hụi nhiều lần tại nhà có sự chứng kiến của ông L. Bà T1 tổ chức rất nhiều dây hụi, có nhiều hụi viên tham gia. Ngoài ra, ông L và bà T1 cùng đi gom hụi của các hụi viên nên việc ông L cho rằng bà T1 tổ chức hụi, gom tiền hụi, sử dụng số tiền có được từ việc gom tiền hụi nhưng không biết bà T1 sử dụng tiền vào mục đích gì là không có cơ sở chấp nhận.

Do vậy, Hội đồng xét xử buộc bà T1 và ông L phải liên đới trả cho bà N số tiền hụi gốc 100.595.000 đồng là phù hợp với Điều 471 của Bộ luật Dân sự; các điều 27, 37 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.

Bà Nguyễn Thị Tuyết N không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. [4]. Về quan điểm của Kiểm sát viên: Phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

. Về án phí: Bà Phạm Thị Thùy T và ông Hồ Văn L phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của bà N được Hội đồng xét xử chấp nhận để sung ngân sách nhà nước là đúng quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sư.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 5, 26, 35, 39, 92, 133, 138, 147, 217, 222, 225, 227, 228, 232 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 357, Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Điều 21, 22 của Nghị định số 19/2019 ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Chấp toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết N về việc tranh chấp về hụi với bà Phạm Thị Thùy T, ông Hồ Văn L.

1. Buộc bà Phạm Thị Thùy T, ông Hồ Văn L phải liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Tuyết N số nợ gốc là 100.595.000 đồng.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án, bên có nghĩa vụ chậm thi hành án thì phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán trừ trường các bên có thỏa thuận khác.

2. Về án phí:

Buộc bà Phạm Thị Thùy T, ông Hồ Văn L phải liên đới nộp 5.029.750 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách nhà nước.

H lại tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị Tuyết N đã nộp là 5.275.000 đồng theo biên lai thu số 4556 ngày 16/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà.

3. Về quyền kháng cáo:

Án xử sơ thẩm, tuyên án công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ