- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "BA Lý - Thế, Hoa, Thảo"
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự nă; Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số Quy đ…; Điều 129 Bộ luật dân sự buộc bà Th phải trả
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 143/2018/DS-PT Ngày: 28/12/2018 V/v: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”. |
NNHHÂÂNN DDAANNHH
NNƯƯỚỚCC CCỘỘNNGG HHÒÒAA XXÃÃ HHỘỘII CCHHỦỦ NNGGHHĨĨAA VVIIỆỆTT NNAAMM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hữu Nhân
Các Thẩm phán:
Bà Vũ Thị Nguyệt
Ông Huỳnh Châu Thạch
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Liên – Thư T a án nhân dân t nh Lâ
Đ ng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thế Trọng - Kiể sát viên.
Ngày 28 tháng 12 nă 2018, tại Trụ sở T a án nhân dân t nh Lâ Đ ng xét xử phúc thẩ công hai vụ án thụ l số 105/2018/TLPT-DS ngày 27 tháng 8 nă 2018 về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”..
Do Bản án Dân sự sơ thẩ số 37/2018/DS-ST ngày 10/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện ĐT bị háng cáo, háng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩ số 264/2018/QĐ-PT ngày 18/9/2018; Quyết định hoãn phiên t a phúc thẩ số 116/2018/QĐPT ngày 05/10/2018 và thông báo về việc ở phiên t a xét xử phúc thẩ vụ án dân sự số 802/TB-TA ngày 07/12/2018 của T a án nhân dân t nh Lâ Đ ng giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh nă : 1967;
Địa ch : Số x TND, phường y, thành phố ĐL.
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Trần Thị H là Luật sư
của Văn ph ng luật sư Trần Thị H thuộc Đoàn luật sư t nh Lâ Đ ng.
- Bị đơn:
1. Vợ ch ng ông Ngô Văn Th, sinh nă : 1961;
Bà Hà Thị Ki H, sinh nă : 1962;
Địa ch : Số x HBT, tổ y, thị trấnLN, huyện ĐT, t nh Lâ Đ ng.
Người đại diện theo ủy quyền cho ông Th, bà H: Ông Lê Cao T, sinh nă :
1972;
Địa ch : Số x (số ới x2) BTX, phường y, thành phố ĐL.
(Văn bản ủy quyền lập ngày 17/10/2017)
2. Bà Nguyễn Thị Th, sinh nă : 1965;
Địa ch : Số x B BTX, tổ y, thị trấn LN, huyện ĐT, t nh Lâ Đ ng.
Người đại diện theo ủy quyền cho bà Th: Bà Phan Thị L, sinh nă : 1960;
Địa ch : Số x B BTX, tổ y, thị trấn LN, huyện ĐT, t nh Lâ Đ ng.
(Văn bản ủy quyền lập ngày 17/11/2017).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Hoàng Ngọc Nh, sinh nă : 1989;
Địa ch : Số x B BTX, tổ y, thị trấn LN, huyện ĐT, t nh Lâ Đ ng.
2. Vợ ch ng ông Lê Mạnh H, sinh nă : 1976;
Bà Nguyễn Thị C, sinh nă : 1977;
Địa ch : Số x THĐ, thị trấn LN, huyện ĐT, t nh Lâ Đ ng.
3. Ông Nguyễn Hữu Ch, sinh nă : 1974;
Địa ch : Số x BĐ, phường y, thành phố ĐL.
4. Vợ ch ng ông Mai Văn D, sinh nă : 1978;
Bà Phạ Thị Ki L, sinh nă : 1980;
Địa ch : Số x HBT, tổ y, thị trấnLN, huyện ĐT, t nh Lâ Đ ng.
5. Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Mai Văn H - Chức vụ: Chi cục trưởng.
6. Văn ph ng công chứng Ngô Văn Th (Văn ph ng công chứng VL cũ) - Địa
ch : Số x HV, hu phố ĐT, thị trấn ĐV, huyện LH, t nh Lâ Đ ng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Văn Th – Chức vụ: Trưởng văn
phòng.
7. Ph ng công chứng số x, t nh Lâ Đ ng.
Địa ch : Số x, quốc lộ x, thị trấn LN, huyện ĐT, t nh Lâ Đ ng.
Do có háng nghị số 691/QĐKNPT-VKS-DS ngày 03/8/2018 của Viện trưởng Viện iể sát nhân dân t nh Lâ Đ ng.
Và do có háng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L; bị đơn bà Nguyễn Thị Th; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Hoàng Ngọc Nh. (Bà L, luật sư H, vợ ch ng ông H, bà C có ặt; Đại diện Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT, đại diện Phòng công chứng số x, đại diện Văn ph ng công chứng Ngô Văn Th có đơn đề nghị xét xử vắng ặt; các đương sự hác vắng ặt tại phiên t a).
NỘI D NG V ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 27/6/2012; ngày 18/01/2013; đơn khởi kiện bổ sung,bản tự khai, lời khai và trong quá trình tham gia tố tụng,người khởi kiện bà Nguyễn Thị L trình bày:
- Về quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất:
Do bà Th có nợ Bà L ột hoản tiền lớn nên vào ngày 18/01/2012, bà Nguyễn Thị Th đại diện cho vợ ch ng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H theo văn bản ủy quyền lập ngày 18/10/2011 đã
hợp đ ng chuyển nhượng cho bà ột ngôi nhà trên diện tích đất 127,04 2, thuộc thửa 1055, tờ bản đ số 57, tại số nhà x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT (đo đạc nă 2007). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4203010481 ngày 28/7/2002 do Ủy ban nhân dân huyện ĐT cấp cho ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H, với giá thỏa thuận là 1.700.000.000đ ng. Hai bên đã ra Ph ng công chứng số x để là hợp đ ng chuyển nhượng, bà đã thanh toán giao đủ số tiền 1.700.000.000đ ng nên bà Th đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho bà.
Tuy nhiên, sau hi chuyển nhượng tiến hành hoàn tất thủ tục sang tên nhà đất thì bị Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời của T a án nhân dân huyện ĐT về việc “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” của ông Th, bà H để đả bảo thi hành án trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” giữa nguyên đơn vợ ch ng ông H, bà C và bị đơn là ông Th, bà H.
Nay bà hởi iện yêu cầu vợ ch ng ông Th, bà H và bà Nguyễn Thị Th phải tiếp tục thực hiện hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT cho bà, để bà hoàn tất thủ tục sang tên theo quy định; Bà L yêu cầu vợ ch ng ông Th, bà H phải giao căn nhà số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT cho bà quản l sử dụng.
- Về quan hệ vay tài sản: Vào các ngày 20/11/2011, bà Th vay của bà số tiền 400.000.000đ ng; ngày 14/11/2011 vay 440.000.000đ ng; ngày 22/11/2011 vay 800.000.000đ ng; ngày 27/3/2012 vay 310.000.000đ ng nhưng tại phiên họp iể tra chứng cứ và h a giải ngày 29/5/2018 bà L xác định hoản tiền nợ gốc vay ngày 27/3/2012 là 115.000.000đ ng hông phải 310.000.000đ ng. Tổng số tiền hiện nay bà Th nợ của bà Là 1.755.000.000 đ ng. Quá trình vay bà Th ới trả được 100.000.000 đ ng tiền lãi. Nay bà yêu cầu bà Th trả cho bà tổng số tiền nợ gốc là 1.755.000.000 đ ng và số tiền lãi trong hạn là 60.628.000đ ng (0,75%/tháng) và quá hạn là 1.404.450.000 đ ng (1,125%/tháng). Tổng cộng bà Th phải trả cho bà Là 1.755.000.000đ ng (nợ gốc) và số tiền 1.465.078.000đ ng (nợ lãi) = 3.220.078.000đ ng (tính đến ngày 22/3/2018).
*Chứng cứ nguyên đơn Bà L cung cấp: bản sao giấy chứng nhận QSH nhà ở và QSD đất ở ang tên ông Th, bà H (Bl 15a, 15b; 473-474); bản chính Hợp đ ng chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn trên đất ngày 18/01/2012 (BL 26-30; bản sao Bl 468-472); bản gốc giấy ủy quyền của Bà L ủy quyền cho ông Kiển ngày 12/3/2013 (Bl 31-32); bản gốc văn bản hủy bỏ ủy quyền của Bà L ủy quyền cho ông Kiển ngày 23/4/2013 (Bl 33-34); bản chính hợp đ ng vay tiền ngày 14/11/2011 giữa Bà L với bà Th số tiền 440.000.000 đ ng (BL 78-80); bản chính hợp đ ng vay tiền ngày 22/11/2011 giữa Bà L với bà Th số tiền 800.000.000 đ ng (BL 82-84); Bản chính giấy vay tiền ngày 27/3/2012 bà Th vay của Bà L số tiền 310.000.000 đ ng (Bl 85), phía sau có giấy xác nhận nợ của bà Nguyễn Thị Th đối với số tiền 800 triệu đ ng; bản chính giấy nhận nợ viết tay bà Th ghi đã nhận đủ 400 triệu đ ng ngày 20/11/2011 (Bl 202); bản chính giấy đặt cọc ngày 14/11/2011 của Bà L (BL 483); bản chính giấy xác nhận của bà Nguyễn Thị Th nhận 1,7 tỷ đ ng hông đề ngày (Bl 489); bản chính giấy sao sổ đỏ chứng nhận QSD đất ngày 06/4/2012 (BL493); bản chính hợp đ ng chuyển nhượng QSD đất ngày 14/11/2011 giữa ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị L với bà Trần Ánh H (BL 494-497); bản chính giấy ca ết và thỏa thuận ngày 23/3/2015 giữa bà L, Bà L, chị Nh (BL 498); bản chính đơn xin rút đơn hiếu nại của chị Hoàng Ngọc Nh ngày 23/3/2015 (BL 499); bản chính giấy xác nhận ngày 11/6/2014 của ông Lê Duy Th (BL 500); bản chính giấy thỏa thuận bán nhà ngày 28/7/2013 giữa Bà L với ông Th (BL 502).
Bị đơn bà Nguyễn Thị Th trình bày:
- Về quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất:
Giữa bà Th và bà Nguyễn Thị L trước đây từng là chung dịch vụ đáo hạn Ngân hàng, quá trình là dịch vụ do thiếu vốn nên hai bên có vay tiền qua lại với nhau. Do quá trình là ăn chung, phát sinh hoản nợ lớn, bà L sợ bà hông trả nên yêu cầu bà viết giấy chuyển nhượng nhà đất tại số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT, chứ thực chất của việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 18/01/2012 giữa bà với bà Nguyễn Thị L là để đả bảo hoản nợ do bà vay của bà L là 1.700.000.000 đ ng.
Trước đó hai bên có hợp đ ng iệng với nhau vay số tiền 1.700.000.000 đ ng, sau đó ra Ph ng công chứng là thành hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với căn nhà và đất tại số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT (do bà được vợ ch ng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H ủy quyền cho bà) để đả bảo cho hoản vay trên. Thực tế Bà L ch đưa cho bà số tiền 745.000.000đ ng. Việc vợ ch ng ông Th, bà H ủy quyền cho bà Là do vợ ch ng ông Th, bà H c n nợ bà số tiền 3.500.000.000đ ng, nên đã hợp đ ng ủy quyền cho bà được toàn quyền quyết định đối với nhà và đất tại số nhà 0x HBT để đả bảo hoản nợ vay. Khi bà vay tiền Bà L yêu cầu là hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để đả bảo hoản nợ vay, bà đã vào hợp đ ng này.
Nay bà L hởi iện yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đ ng chuyển nhượng bà hông đ ng vì bà ch vay tiền bà L, nên bà ch đ ng trả lại số tiền thực tế đã nhận vay của bà L là 745.000.000 đ ng.
-Về quan hệ vay tài sản: Về số tiền bà Th vay của Bà L cụ thể: Đối với hoản vay vào ngày 22/11/2011 số tiền 800.000.000 đ ng, bà thừa nhận có vay của bà L, nhưng hi vay bà L đã trừ 02 tháng tiền lãi, theo ức lãi 5%/tháng với số tiền là 80.000.000đ ng, c n lại thực tế bà L ch giao cho bà số tiền 720.000.000đ ng nên bà ch đ ng trả nợ cho bà L hoản tiền nợ vay này là 720.000.000đ ng.
Đối với hoản nợ 400.000.000đ ng bà thừa nhận có vay của bà L trước đó (ngày 20/5/2011) hợp đ ng vay 06 tháng
ột lần, nên đến ngày 20/11/2011 hợp đ ng vay tiếp nhưng sau đó bà đã trả hết bằng việc chuyển nhượng lô đất với diện tích 141,9 2 thuộc thửa đất 2024, tờ bản đ số 76 tại thị trấn LN, huyện ĐT với giá là 400.000.000đ ng cho bà L do ông Nguyễn Hữu Ch (là cháu của bà L đứng tên giù cho bà L), hiện nay ông Ch đã là thủ tục chuyển tên lô đất này cho bà L nên bà hông c n nợ.
Đối với hoản nợ 440.000.000đ ng vào ngày 14/11/2011, bà trình bày hai bên có ra công chứng là hợp đ ng vay, nhưng thực tế bà chưa nhận được tiền. Đối với hoản nợ vay 310.000.000 đ ng vào ngày 27/3/2012 bà thừa nhận số tiền nợ gốc là 115.000.000 đ ng.
Quá trình vay bà đã trả lãi cho bà L bằng hình thức nộp tiền vào tài hoản tại Ngân hàng, và trả trực tiếp, tổng cộng 196.000.000đ ng, nhưng trong số tiền này có 96.000.000 đ ng bà đã trả lãi 6 tháng cho hoản nợ vay 400.000.000 đ ng, hiện nay bà đã chuyển quyền sử dụng đất cho Bà L để cấn trừ hoản nợ này nên bà hông yêu cầu xe xét đối với hoản tiền đã trả lãi 96.000.000đ ng này nữa.
Đối với yêu cầu hởi iện của bà L về các hoản vay bà ch đ ng trả số tiền gốc cho bà L tổng cộng là 835.000.000đ ng và đ ng trả lãi theo quy định của pháp luật trừ số tiền lãi bà đã trả 100.000.000đ ng.
Ngoài ra,trước đây bà yêu cầu bà L trả lại cho bà hoản tiền nợ 500.000.000 đ ng do bà L ượn của bà. Nay bà đã rút hông yêu cầu nữa.
*Chứng cứ bị đơn bà Th cung cấp: bản chính 02 iếng giấy vàng do Bà L viết (BL 360); bản phô tô hợp đ ng vay tiền ngày 18/01/2011; bản phô tô tờ xác nhận nợ do Bà L viết có ghi tài liệu 1, tài liệu 2 (BL 203); 04 bản sao (liên 2)giấy nộp tiền(BL118-121); 01 bản chính viết tay giấy xác nhận vợ ch ng ông Đức, Bà L có nhận của bà Th 500.000.000 đ ng hông có chữ ở dưới ngày 14/11/2011 (BL 121a); bản phô tô giấy ca ết ngày 23/3/2015 có chữ của bà L, bà Th, chị Nh phía chữ
bằng bút ực (BL 557); bản chính giấy thỏa thuận ngày 06/3/2015; bản phô tô giấy vay tiền ngày 27/3/2012 giữa bà L với bà Th (Bl506 và 556); bản phô tô hợp đ ng vay tiền giữa bà L với bà Th 800 triệu đ ng ngày 22/11/2011 (Bl 508-510; 549-553); bản chính giấy thỏa thuận của bà L, bà Th (BL 555); bản phô tô hợp đ ng vay tiền ngày 27/3/2012 của bà Th và bà L vay 310 triệu (BL 556); bản chính 01 chứng từ giao dịch (BL 562); bản phô tô giấy chứng nhận QSD đất đứng tên Vũ Thị L (BL 584-585); bản chính 02 giấy chốt tiền, viết trên giấy học sinh do bà L viết (Bl 595-596); bản chính giấy ủy quyền của bà Th ủy quyền cho bà L ngày 17/11/2017 (Bl 598-599).
Bị đơn vợ chồng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Kim H cũng như ông Lê Cao T là người đại diện theo ủy quyền cho ông Th, bà H trình bày:
Vào cuối nă 2011, vợ ch ng ông Th, bà H có nhu cầu đáo hạn tại Quỹ tín dụng nhân dân LN, huyện ĐT, nên có nhờ bà Nguyễn Thị Th đáo hạn giúp với số tiền 140.000.000đ ng. Bà Th hứa đáo hạn xong sẽ cho vay thê ột số tiền nữa. Sau hi đáo hạn xong, bà Th cầ sổ đỏ nhà đất tại số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT của vợ ch ng ông bà yêu cầu phải là ủy quyền để đi vay tiền tại Ngân hàng, do đang vội nên hông đọc ỹ và có vào giấy ủy quyền, thực chất vợ ch ng ông bà hợp đ ng ủy quyền cho bà Th để vay tiền chứ hông phải ủy quyền cho bà Th bán nhà đất. Việc
ết hợp đ ng chuyển nhượng vào ngày 18/01/2012 giữa Bà L và bà Th thì vợ ch ng ông bà hông biết vì bà Th không thông báo, ông bà quá tin bà Th nên bị lừa.
Vào hoảng tháng 12/2012, bà Th yêu cầu vợ ch ng ông bà Lên T a nhận nợ, nên ngày 04/01/2013, T a án huyện ĐT đã ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 02/2012/QĐST-DS với nội dung vợ ch ng ông Th, bà H có trách nhiệ trả cho bà Th số tiền 3.500.000.000 đ ng. Bà Th trả cho vợ ch ng ông Th giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất số 4203010481 cấp ngày 28/7/2002 tại số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT đứng tên ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H; Hủy hợp đ ng ủy quyền ngày 18/10/2011 được Ph ng công chứng số x t nh Lâ Đ ng chứng thực, và quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 02/2012/QĐST-DS hiện nay đang có hiệu lực pháp luật.
Nay Bà L hởi iện yêu cầu vợ ch ng ông bà phải giao nhà đất, vì ông bà hông chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT cho bà L, nên ông Ngô Văn Th và bà Hà Thị Ki H không đ ng hợp đ ng chuyển nhượng ngày 18/01/2012 giữa Bà L và bà Th đại diện theo ủy quyền, bà hông đ ng giao nhà đất cho Bà L.
Đề nghị T a án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Ngọc Nh trình bày:
Ngày 07/01/2012, bà Nguyễn Thị Th đại diện theo ủy quyền cho vợ ch ng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H có đến Văn ph ng công chứng Ngô Văn Th ký hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất cho chị Hoàng Thị Nh đối với căn nhà và đất tại số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT với giá thực tế là 1.700.000.000 đ ng (trong hợp đ ng là 300.000.000 đ ng để giả thuế). Chị Nh đã giao đủ tiền cho bà Th.
Nay chị Nh yêu cầu bà Th tiếp tục thực hiện hợp đ ng chuyển nhượng và yêu cầu vợ ch ng ông Th, bà H giao nhà cho chị theo đúng thỏa thuận vì việc bà Th ký hợp đ ng chuyển nhượng nhà đất số x HBT, thị trấn LN cho chị Nh trước (ngày 07/01/2012) sau đó ngày 18/01/2012 lại l hợp đ ng chuyển nhượng nhà đất trên cho bà L.
*Chứng cứ chị Nh cung cấp: bản chính giấy hợp đ ng đặt cọc ua bán nhà và đất giữa bà Th với chị Nh ngày 01/01/2012 (BL 361); bản chính Hợp đ ng chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn trên đất ngày 07/01/2012 (BL 621-622).
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C, ông Lê Mạnh H cũng như bà Nguyễn Thị C là người đại diện theo ủy quyền cho bà C, ông H trình bày:
Trước đây vợ ch ng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H có vay của vợ ch ng bà số tiền 2.387.187.000đ ng và đã được giải quyết tại bản bản số 119/DSST ngày 22/11/2012 của T a án huyện ĐT, hiện bà đang yêu cầu áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời đối với căn nhà và đất tại số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT tại Quyết định số 01/QĐ-BPKCTT ngày 07/05/2012. Nay tài sản này đang chuyển nhượng và tranh chấp, bà yêu cầu T a án xe xét giải quyết theo quy định của pháp luật để đả bảo thi hành án hoản nợ vay của vợ ch ng ông Th, bà H với bà.
*Chứng cứ bà C cung cấp:
- bản phô tô quyết định cưỡng chế ê biên, xử l tài sản (Bl 318); bản sao thông báo về việc cưỡng chế thi hành án ngày 21/02/2014 (BL 325); bản chính biên bản ê biên, xử l tài sản (BL 320-324); bản phô tô TP xác nhận Quyết định áp dụng BPKCTT ngày 07/5/2012 (BL 319); bản phô tô Bản án dân sự sơ thẩ số 119/2012/DSST ngày 22/10/2012 của T a án nhân dân huyện ĐT; bản phô tô Hợp đ ng chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn trên đất ngày 20/5/2011;
Ông Mai Văn H là người đại diện theo pháp luật của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT trình bày:
Theo các Quyết định số 02/2012/QĐST-DS ngày 04/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện ĐT, Quyết định số 03/2013/QĐ-PT ngày 28/01/2013 của TAND t nh Lâ Đ ng và các Quyết định Thi hành án số 32/QĐ-CCTHA ngày 04/01/2013; số 41/QĐ-CCTHA ngày 07/01/2013; số 93/QĐ-CCTHA, số 94/QĐ-CCTHA ngày 30/01/2013 của Chi cục trưởng Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT thì vợ ch ng ông Th, bà H phải nộp 133.480.000đ ng án phí dân sự sơ thẩ và phải trả cho vợ ch ng ông H, bà C số tiền 2.533.999.000 đ ng cộng lãi suất phát sinh và 30.000.000đ ng án phí dân sự sơ thẩ và trả cho vợ ch ng ông H, bà C 400.000.000đ ng và lãi suất, liên đới với ông Hà Văn L trả cho vợ ch ng ông H, bà C 400.000.000đ ng và lãi suất.
Để đả bảo cho việc thi hành án, ngày 12/3/2014 Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT đã tiến hành ê biên tài sản của ông Th, bà H ở tại địa ch x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT, t nh Lâ Đ ng. Tài sản ê biên là quyền sử dụng đất có diện tích 127.4m2 đất ở đô thị, thuộc thửa số 08 tờ bản đ số 6 (1993) – Bản đ địa chính LN, được ch nh l thành thửa số 1055 tờ bản đ số 57 (2007), Bản đ địa chính LN cùng toàn bộ tài sản trên đất là 01 căn nhà xây. Nhà và đất đã được Ủy ban nhân dân huyện ĐT cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4203010481, cấp ngày 28/7/2002. Chi cục THADS huyện ĐTđề nghị T a án huyện ĐT giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
*Chứng cứ Chi cục THADS huyện ĐTcung cấp bản sao từ hồ sơ của Chi cục THADS huyện ĐTgồm: Quyết định thi hành án số 32/QĐ-CCTHA ngày 04/01/2013 (BL645); Quyết định số 93/QĐ-CCTHA ngày 30/01/2013 của Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện ĐT(BL646); Quyết định số 02/2012/QĐST-DS ngày 04/01/2013 của T a án nhân dân huyện ĐT (Bl 647); Bản án dân sự sơ thẩ số 119/2012/DSST ngày 22/10/2012 của T a án nhân dân huyện ĐT (BL 648-649); Quyết định số 03/2013/QĐ-PT ngày 28/01/2013 của TAND t nh Lâ Đ ng (Bl 650); Quyết định cưỡng chế ê biên, xử l tài sản số 06/QĐ-CCTHA ngày 28/01/2013 của Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện ĐT(BL 651); biên bản ê biên, xử l tài sản ngày 12/3/2014 (BL 652-657).
Ông Ngô Văn Th là người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng Ngô Văn Th (Văn phòng công chứng VL cũ) trình bày:
Vợ ch ng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Th được chuyển nhượng tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với căn nhà và đất tại số x HBT, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H.
Vào ngày 07/01/2012 bà Nguyễn Thị Th và chị Hoàng Ngọc Nh có ang bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các giấy tờ tùy thân hác đến văn ph ng công chứngVăn Long (nay là văn ph ng công chứng Ngô Văn Th) yêu cầu công chứng hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Sau hi xe xét các giấy tờ có liên quan có đầy đủ thủ tục theo quy định để là thủ tục hợp đ ng, Văn ph ng đã soạn thảo hợp đ ng theo yêu cầu của người công chứng, tất cả cùng đọc lại Hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với căn nhà và đất tại số x HBT, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H giữa bên chuyển nhượng là ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H do bà Nguyễn Thị Th đại diện theo ủy quyền và bên nhận chuyển nhượng là chị Hoàng Ngọc Nh và cùng thống nhất
tên, Công chứng viên và phát hành hợp đ ng cho người yêu cầu công chứng. Mọi thủ tục công chứng đã là đầy đủ theo pháp luật quy định. Nay các bên tranh chấp đề nghị T a án xe xét giải quyết theo luật định.
*Chứng cứ Văn phòng công chứng VL (nay là VPCC Ngô Văn Th) cung cấp gồm: bản sao hợp đ ng ủy quyền ông Th, bà H ủy quyền cho bà Th ngày 18/10/2011 (Bl 720-723); bản sao hợp đ ng chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn liền với đất ngày 07/01/2012 giữa ông Th, bà H, bà Th với chị Nh (Bl 724-725).
Ông Lê Kim Thành là người đại diện cho Phòng công chứng số x trình bày:
Vợ ch ng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Th được chuyển nhượng tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với căn nhà và đất tại số x HBT, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Th, bà H.
Vào ngày 18/01/2012, bà Nguyễn Thị Th và bà Nguyễn Thị L đến Phòng công chứng số x yêu cầu công chứng hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Sau hi xe xét các giấy tờ có liên quan theo quy định để là thủ tục hợp đ ng, Văn ph ng đã là hợp đ ng theo yêu cầu của người công chứng là Hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với căn nhà và đất tại số 0x HBT, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Th, bà H giữa bên chuyển nhượng là ông Th, bà H do bà Nguyễn Thị Th đại diện theo ủy quyền bà bên nhận chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị L . Hai bên tiến hành hợp đ ng trước Công chứng viên. Mọi thủ tục công chứng đã là đầy đủ theo pháp luật quy định.
Nay các bên tranh chấp đề nghị T a án xe xét giải quyết theo luật định.
*Chứng cứ Phòng công chứng số x cung cấp gồm: bản sao hợp đ ng ủy quyền ông Th, bà H ủy quyền cho bà Th ngày 18/10/2011 (Bl 733-734); bản sao hợp đ ng chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn liền với đất ngày 07/01/2012 giữa ông Th, bà H, bà Th với Bà L (Bl 728-730).
Ông Nguyễn Hữu Ch trình bày:
Giữa ông và bà Nguyễn Thị L có quan hệ họ hàng. Vào nă 2011, ông có nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Th diện tích đất 141,9 2 ( thuộc thửa 2024 tờ bản đ số 76 tại thị trấn LN, với số tiền là 400.000.000 đ ng, số tiền này là của bà Nguyễn Thị L nhờ ông đứng tên giù , sau hi nhận chuyển nhượng ông đã là thủ tục sang tên lại cho Bà L.
C n giữa Bà L và bà Th nội dung vay ượn tiền thế nào ông hông biết nhưng bà Th có hai lần chuyển nhờ tiền vào tài hoản của ông và ông đã giao lại hết cho Bà L ( ỗi lần số tiền là 16.000.000 đ ng). Vì Bà L là cô ruột của ông nên ông giúp.
Nay Bà L yêu cầu đ i nợ bà Th đề nghị T a án giải quyết theo quy định của pháp luật, ông hông liên quan.
Vợ chồng ông Mai Văn D, bà Phạm Thị Kim L trình bày:
Vợ ch ng ông bà có thuê của vợ ch ng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H căn nhà tại số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT, t nh Lâ Đ ng để buôn bán hàng nội thất từ nă 2006, có hợp đ ng thuê ặt bằng hai nă
ột lần, giá thuê ặt bằng 84.000.000đ ng/nă . Hợp đ ng gần đây nhất là tháng 3/2017, vợ ch ng đã giao đủ tiền hợp đ ng thuê cho vợ ch ng ông Th, bà H nhưng hợp đ ng đã bị thất lạc nên hông có để giao nộp cho T a.
Nay vợ ch ng ông Th, bà H có tranh chấp tài sản này với người hác à ông bà đang thuê, ông bà hông có iến gì, đề nghị T a án giải quyết theo quy định. Đối với hợp đ ng thuê nhà ông bà hông yêu cầu giải quyết trong vụ án này, nếu sau này giữa ông bà và vợ ch ng ông Th, bà H có tranh chấp thì ông bà sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án hác.
Tại Bản án Dân sự sơ thẩ số 07/2014/DS-ST ngày 26/02/2014 của T a án nhân dân huyện ĐT đã xử:
1- Công nhận và tiếp tục duy trì hợp đ ng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà và QSD đất, giữa vợ ch ng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H (do bà Th làm đại diện theo uỷ quyền) với bà Nguyễn Thị L, lập ngày 18/01/2012 được Phòng công chứng số x t nh Lâ Đ ng chứng thực.
- Buộc bà Nguyễn Thị Th, vợ ch ng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H giao căn nhà số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT cho bà Nguyễn Thị L. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và QSD đất số hiệu 4203010481 ngày 28/7/2002, thửa đất số 1055 tờ bản đ số 57(2007) thị trấn LN, đứng tên vợ ch ng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H.
- Bà Nguyễn Thị Th phải trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền gốc 1.950.000.000đ ng; hoản lãi 444.807.000đ ng.
2- Về án phí: Bà Th phải chịu 79.668.000đ ng án phí dân sự sơ thẩ . Hoàn trả cho Bà L số tiền nộp tạ ứng án phí cộng chung 48.750.000đ ng, theo các biên lai thu số 0000120 ngày 03/01/2013; biên lai thu số 09177 ngày 30/01/2013; biên lai thu số 0002474 ngày 23/10/2013 đều của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT.
Ngoài ra, bản án c n tuyên quyền háng cáo, quyền thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/3/2014, bị đơn bà Th và ông Th háng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩ , đề nghị hủy bản án sơ thẩ với l do T a án cấp sơ thẩ vi phạ nghiê trọng thủ tục tố tụng.
Tại Quyết định số 344/QĐKNPT ngày 26/3/2014 của VKSND t nh Lâ
Đ ng, háng nghị theo thủ tục phúc thẩ và đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩ nêu trên; giao vụ án về cho T a án nhân dân huyện ĐT giải quyết lại theo thủ tục chung.
Tại Bản án Dân sự phúc th m số 44/2014/DSPT ngày 21/5/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã xử
Chấp nhận háng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Th; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn Th; chấp nhận háng nghị của Viện iể sát nhân dân t nh Lâ Đ ng. Xử: Hủy Bản án dân sự sơ thẩ số 07/2014/DS-ST ngày 26/02/2014 của T a án nhân dân huyện ĐT , vụ án “Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn liền đất; tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản”; giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị L; bị đơn bà Nguyễn Thị Th; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H.
Giao h sơ vụ án nêu trên cho T a án cấp sơ thẩ thụ l giải quyết lại theo thủ tục chung.
Về án phí: Hoàn trả lại cho bị đơn bà Nguyễn Thị Th số tiền 200.000đ ng nộp tạ ứng án phí phúc thẩ , theo biên lai thu số 0005672 ngày 10/3/2014; Hoàn trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn Th số tiền 200.000đ ng nộp tạ ứng án phí phúc thẩ , theo biên lai thu số 0005714 ngày 26/3/2014 đều của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Trọng.
Ngày 18/7/2014, T a án nhân dân huyện ĐT đã thụ l giải quyết lại vụ án theo trình tự sơ thẩ .
Tại Bản án Dân sự sơ th m số 37/2018/DS-ST ngày 10/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện ĐT đã xử
1/ Tuyên bố hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa chị Hoàng Ngọc Nh và bà Nguyễn Thị Th xác lập ngày 07/01/2012 và hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị Th xác lập ngày 18/01/2012 vô hiệu.
- Buộc bà Nguyễn Thị Th có nghĩa vụ trả cho chị Hoàng Ngọc Nh số tiền 3.301.367.000 đ ng tiền chuyển nhượng nhà đất; buộc bà Nguyễn Thị Th có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 2.520.675.000 đ ng, trong đó nợ gốc 1.700.000.000 đ ng, tiền lãi 820.675.000 đ ng.
- Buộc bà Nguyễn Thị L giao lại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4203010481, đứng tên ông bà Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H, do Ủy ban nhân dân huyện ĐT cấp ngày 28/7/2002 cho vợ ch ng ông Th và bà H quản l , sử dụng.
2/ Chấp nhận ột phần yêu cầu hởi iện của bà Nguyễn Thị L. Buộc bà Nguyễn Thị Th có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 1.568.662.500đ ng. Trong đó gốc 915.000.000 đ ng, lãi 653.662.500 đ ng.
Ngoài ra, bản án c n tuyên về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩ và quyền háng cáo của các đương sự theo quy định.
- Ngày 03/8/2018, Viện trưởng Viện iể sát nhân dân t nh Lâ Đ ng có Quyết định háng nghị phúc thẩ số 691/QĐKNPT-VKS-DS đề nghị T a án nhân dân t nh Lâ Đ ng xét xử phúc thẩ sửa bản án sơ thẩ theo hướng chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, bác yêu cầu độc lập của chị Hoàng Thị Nh. Buộc bà Th và vợ ch ng ông Th, bà H có trách nhiệ giao đất và nhà ghi trong hợp đ ng cho Bà L quản l sử dụng để thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật; áp dụng Điều 474 Bộ luật Dân sự nă 2005 sửa phần lãi suất quá hạn bà Th phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà L.
- Ngày 12/7/2018 và ngày 16/7/2018, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L có đơn kháng cáo bản án Dân sự sơ thẩ ; yêu cầu T a án cấp phúc thẩ giải quyết: Công nhận hiệu lực của hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L với ông Th, bà H do bà Th là đại diện lập ngày 18/01/2012; buộc ông Th, bà H, bà Th phải hoàn thành thủ tục chuyển nhượng và giao nhà đất cho bà. Công nhận hoản nợ bà Th nợ bà, buộc bà Th phải trả đủ nợ gốc và lãi cho bà theo quy định của pháp luật hiện hành.
- Ngày 23/7/2018 và ngày 06/8/2018, bị đơn bà Nguyễn Thị Th có đơn háng cáo đề ngày 23/7/2018 và đơn háng cáo đề ngày 06/8/2018, háng cáo ột phần bản án Dân sự sơ thẩ ; yêu cầu T a án nhân dân t nh Lâ Đ ng xe xét giải quyết hoặc hủy bản án sơ thẩ đả bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bà. Theo đơn háng cáo bổ sung ngày 06/8/2018, bà Th háng cáo yêu cầu sửa ột phần bản án sơ thẩ , tuyên bố tiếp tục hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 1055, tờ bản đ số 57, diện tích 127,04 2 tại số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT giữa chị Nh với vợ ch ng ông Th, bà H do bà Th đại diện ngày 07/01/2012. Tuyên hợp đ ng chuyển nhượng giả cách ngày 18/01/2012 nhằ vay tài sản giữa bà Th và bà L vô hiệu về nội dung tại thời điể
ết. Chấp thuận hông trả lãi cho hoản vay 115 triệu đ ng và 800 triệu đ ng.
- Ngày 23/7/2018 và ngày 06/8/2018, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: chị Hoàng Ngọc Nh có đơn háng cáo của đề ngày 23/7/2018, háng cáo bản án Dân sự sơ thẩ ; yêu cầu T a án nhân dân t nh Lâ Đ ng xe xét vấn đề lỗi của vợ ch ng bà H, ông Th đối với bà Th dựa vào Quyết định số 02/2012/QĐST-DS tháng 12/2012. Vì thế ông Th, bà H không dùng tài sản nhà đất tại số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT để thanh toán cho hợp đ ng vô hiệu là chưa thấu tình đạt l . Theo đơn háng cáo bổ sung ngày 06/8/2018, chị Nh háng cáo yêu cầu sửa ột phần bản án sơ thẩ , tuyên bố tiếp tục hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa chị Nh với vợ ch ng ông Th, bà H do bà Th đại diện ngày 07/01/2012 thuộc thửa 1055, tờ bản đ số 57, diện tích 127,04 2 tại số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT.
Tại phiên t a hô nay, nguyên đơn bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu háng cáo.
Vợ ch ng ông H, bà C đề nghị T a án cấp phúc thẩ hủy bỏ toàn bộ các hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất giữa bà Th và chị Nh lập ngày 07/01/2012 và giữa bà Th và Bà L lập ngày 18/01/2012, vì nhà đất số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT thuộc quyền sở hữu của ông Th, bà H đã bị ê biên để đả bảo cho việc thi hành án.
Luật sư H bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà L đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu cầu háng cáo của bà L. Công nhận hiệu lực của hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Bà L với ông Th, bà H, bà Th lập ngày 18/01/2012; buộc ông Th, bà H, bà Th phải hoàn thành thủ tục chuyển nhượng và giao nhà đất cho bà L. Công nhận hoản nợ bà Th nợ Bà L, buộc bà Th phải trả đủ nợ gốc và lãi cho bà L theo quy định của pháp luật hiện hành.
Đại diện Viện iể sát nhân dân t nh Lâ Đ ng nhận định: Việc chấp hành pháp luật của Thẩ phán trong quá trình thụ l và của Hội đ ng xét xử tại phiên t a là đúng pháp luật. Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận toàn bộ háng nghị của Viện iể sát nhân dân t nh Lâ Đ ng để công nhận hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Th và bà L đối với nhà đất tại số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT. Bác yêu cầu của bà L đối với 02 hoản nợ bà L yêu cầu bà Th trả là 840 triệu đ ng, áp dụng Điều 474 Bộ luật Dân sự nă 2005 sửa phần lãi suất quá hạn mà bà Th phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà L.
NH N ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án được thẩ tra tại phiên t a, căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên t a và iến của đại diện Viện iể sát. Hội đ ng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên t a hô nay, ặc dù đã được gửi thông báo về việc ở phiên t a xét xử phúc thẩ vụ án hợp lệ nhưng người háng cáo là bị đơn bà Th cũng như người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn bà Th là bà Ly; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Ngọc Nh vẫn vắng ặt tại phiên t a lần thứ 02 hông có l do nên coi như từ bỏ việc háng cáo của ình. Do vậy, Hội đ ng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 312 của Bộ luật Tố tụng dân sự nă 2015, đình ch xét xử phúc thẩ đối với yêu cầu háng cáo của bà Th và chị Nh là có căn cứ.
Nguyên đơn Bà L là người có đơn kháng cáo có ặt tại phiên t a; bị đơn vợ ch ng ông Th, bà H cũng như ông Lê Cao T là người đại diện theo ủy quyền cho vợ ch ng ông Th, bà H vắng ặt tại phiên t a; Đại diện Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT, đại diện Ph ng công chứng số x, đại diện Văn ph ng công chứng Ngô Văn Th có đơn đề nghị xét xử vắng ặt nên Hội đ ng xét xử căn cứ Khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự nă 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về quan hệ tranh chấp:
Vào ngày 07/01/2012, bà Nguyễn Thị Th (đại diện theo ủy quyền của vợ ch ng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H) với chị Hoàng Ngọc Nh hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà trên diện tích đất 127,04 2 (thuộc thửa 1055, tờ bản đ số 57) tại số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT; đã được UBND huyện ĐT cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và QSD đất cho vợ ch ng ông Ngô Văn Th và bà Hà Thị Ki H ngày 28/7/2002. Đến ngày 18/01/2012 bà Nguyễn Thị Th lại tiếp tục hợp đ ng chuyển nhượng nhà đất nói trên với bà Nguyễn Thị L .
Do chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng nên bà L hởi iện yêu cầu vợ ch ng ông Th, bà H, bà Th phải tiếp tục thực hiện hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và phải giao căn nhà số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT cho bà L. Đ ng thời, bà L hởi iện yêu cầu bà Th trả số tiền vay là 1.755.000.000 đ ng nợ gốc và lãi.
Chị Hoàng Ngọc Nh có yêu cầu độc lập là yêu cầu vợ ch ng ông Th, bà H, bà Th tiếp tục thực hiện hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT cho chị Nh vì chị Nh đã trả đủ tiền nhưng chưa được nhận nhà đất.
Do đó, cấp sơ thẩ xác định quan hệ tranh chấp là: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” và thuộc thẩ quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện ĐT là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét háng cáo của bà Nguyễn Thị L , háng nghị của Viện iể sát nhân dân t nh Lâ Đ ng thì thấy rằng:
- Về quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất:
Đối tượng là nhà đất trên diện tích đất 127,04 2 thuộc thửa 1055, tờ bản đ số 57 ở số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT đã được Ủy ban nhân dân huyện ĐT cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cho vợ ch ng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H ngày 28/7/2002 có trị giá 4.902.734.400 đ ng theo biên bản định giá ngày 31/10/2017.
[4] Xét Hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Nguyễn Thị Th, vợ ch ng ông Th, bà H với bà Nguyễn Thị L lập ngày 18/01/2012 tại Ph ng công chứng số x thì thấy rằng:
Theo bà L hai bà đã giao đủ số tiền chuyển nhượng cho bà Th là 1.700.000.000 đ ng. Bà Th hai việc hợp đ ng chuyển nhượng toàn bộ tài sản trên cho bà L nhằ đả bảo hoản nợ giữa bà và bà L, thực tế hông có việc chuyển nhượng xảy ra, nên bà ch nhận của bà L số tiền 745.000.000 đ ng từ hợp đ ng này. Theo hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Nguyễn Thị Th, vợ ch ng ông Th, bà H với bà Nguyễn Thị L ghi “Việc thanh toán do các bên thực hiện và tự chịu trách nhiệ trước pháp luật”.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Th xuất trình tài liệu là tờ giấy viết tay thể hiện số tiền chuyển nhượng 1.700.000.000 đ ng đã thanh toán trừ vào hoản nợ bà Th ua lô đất của bà L trước đó là 700.000.000 đ ng và trừ vào các hoản nợ lãi hác, c n lại 745.000.000 đ ng là bà Th thừa nhận bà L có giao sau khi hai bên
ết hợp đ ng (BL360).
Bà L xuất trình giấy xác nhận do bà Th viết hông đề ngày (BL 489) thể hiện bà Th đã nhận đủ số tiền 1.700.000.000 đ ng và trong quá trình giải quyết vụ án bà Th cũng thừa nhận chữ và chữ viết trong giấy này là do bà viết và ra. Bà L xác định số tiền 1.700.000.000 đ ng được trừ vào số tiền nợ 3.250.000.000 đ ng (BL58), tại biên bản đối chất ngày 29/11/2017 (BL 677-682) bà L thừa nhận chữ viết tại tài liệu bà Th xuất trình là chữ viết của bà, đ ng thời các chữ số trong tài liệu liên quan đến hoản tiền 1.700.000.000 đ ng chuyển nhượng nhà đất này.
Do vậy, có căn cứ xác định số tiền 1.700.000.000 đ ng là hoản nợ bà Th vay của bà L, được trừ ột phần vào hoản nợ ua đất tại Đà Lạt và các hoản lãi của bà Th nợ Bà L, c n lại số tiền 745.000.000 đ ng Bà L giao cho bà Th. Tại giấy ết nợ ngày 19/5/2012 và giấy ê các hoản nợ (BL 595,596) do bà Th xuất trình đều có liệt ê hoản nợ 1.700.000.000 đ ng là hoản tiền chuyển nhượng nhà đất; tại phiên tòa sơ thẩ bà L hai sau hi hợp đ ng chuyển nhượng bị ngăn chặn bà đã chuyển số tiền này cùng các hoản nợ bà Th phải trả cho bà.
Như vậy, việc các bên
ết hợp đ ng chuyển nhượng nhà đất này thực chất nhằ đả bảo hoản nợ vay 1.700.000.000 đ ng nên hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được
ết giữa bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị Th vào ngày 18/01/2012 thì về hình thức được thực hiện đúng quy định nhưng hợp đ ng
ết nhằ đả bảo hoản nợ bà Th vay của bà L nên giao dịch dân sự vô hiệu về nội dung tại thời điể
ết. Hơn nữa, trước hi hợp đ ng chuyển nhượng nhà đất cho bà L ngày 18/01/2012 thì ngày 07/01/2012, bà Th đã hợp đ ng chuyển nhượng nhà đất nói trên cho chị Nh tại công chứng và đã nhận đủ tiền nhưng chưa giao nhà; và hi hợp đ ng ngày 18/01/2012 thì hợp đ ng ngày 07/01/2012 cũng chưa được hủy bỏ theo quy định.
[5] Đối với hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Nguyễn Thị Th (đại diện theo ủy quyền của vợ ch ng ông Th, bà H) với chị Hoàng Thị Nh xác lập ngày 07/01/2012 tại Văn ph ng công chứng VL.
Khi Văn ph ng công chứng hoàn thành hợp đ ng công chứng đã hông cập nhật thông tin về giao dịch liên quan đến quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất đã thực hiện công chứng với các bên tha gia giao dịch đối với hợp đ ng này nên đến ngày 18/01/2012 bà Th đã tiếp tục
hợp đ ng chuyển nhượng tài sản này cho bà L tại Ph ng công chứng số x. Vì vậy, cùng ột đối tượng là ngôi nhà ở số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT, bà Th đã lập hợp đ ng chuyển nhượng cho hai người đã được công chứng chứng thực tại hai Văn ph ng công chứng hác nhau là trái quy định pháp luật. Nên giao dịch dân sự hông có hiệu lực pháp luật, vô hiệu toàn bộ.
Hơn nữa, tại điều 3, điều 4 của Hợp đ ng ủy quyền ngày 18/01/2011 giữa vợ ch ng ông Th, bà H cho bà Th đối với nhà đất số x HBT, thị trấn LN đã quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên cụ thể: “Khi thực hiện công việc được ủy quyền bà Th phải thông báo cho vợ ch ng ông Th, bà H biết việc thực hiện công việc đó cũng như có nghĩa vụ giao cho vợ ch ng ông Th tài sản và những lợi ích thu được từ việc nhận ủy quyền”. Tuy nhiên, hi các hợp đ ng chuyển nhượng này bà Th đã hông thông báo cho vợ ch ng bà H, ông Th biết và do hợp đ ng chuyển nhượng nhằ đả bảo hoản nợ vay của bà Th nên bà Th hông giao tài sản và những lợi ích thu được từ việc nhận ủy quyền. Vợ ch ng bà H, ông Th đã có đơn hiếu nại và ngăn chặn việc chuyển nhượng tài sản trên. Do vậy bà Th đã vi phạ hợp đ ng ủy quyền lập ngày 18/10/2011 giữa vợ ch ng bà H, ông Th và bà Th.
[6] Do giao dịch chuyển nhượng nhà đất xảy ra vào nă 2012 nên phải áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự 2005 để giải quyết; theo Điều 692 của Bộ luật Dân sự nă 2005 thì thời điể có hiệu lực của hợp đ ng chuyển nhượng đất là ể từ thời điể đăng quyền sử dụng đất theo quy định về pháp luật đất đai.
Theo Khoản 5 Điều 93 của Luật Nhà ở nă 2005 thì thời điể có hiệu lực của hợp đ ng chuyển nhượng nhà đất là quyền sở hữu nhà được chuyển cho bên ua ể từ thời điể
hợp đ ng công chứng và đã tiến hành giao nhận nhà để ở.
Theo Khoản 4 Điều 146 của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành Luật đất đai thì hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực ể từ thời điể đăng tại Văn ph ng đăng
quyền sử dụng đất.
Theo Công văn số 724/CNĐTR ngày 23/11/2018 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai huyện ĐT thì: “Việc chuyển nhượng nhà đất tại số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT các bên chưa là thủ tục đăng tại Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai huyện ĐT nên chưa phát sinh hiệu lực. Hiện nay, nhà đất nêu trên vẫn ang tên vợ ch ng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H”. Như vậy, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất giữa các đương sự ới ch dừng lại ở việc công chứng, chứng thực hợp đ ng, chưa đăng theo quy định pháp luật về đất đai nên chưa có hiệu lực pháp luật.
[7] Ngoài ra, trước hi Bà L, chị Nh hởi iện thì nhà đất tại số 0x HBT, LN, đứng tên vợ ch ng bà H, ông Th bị Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số 01/2012/QĐ-BPKCTT ngày 07/5/2012 của T a án nhân dân huyện ĐT bằng biện pháp “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” của vợ ch ng bà H, ông Th để đả bảo thi hành án trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” giữa nguyên đơn vợ ch ng bà Nguyễn Thị C, ông Lê Phi H và bị đơn vợ ch ng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H được giải quyết tại Bản án số 119/2012/DS-ST ngày 22/10/2012 của T a án nhân dân huyện ĐT đã có hiệu lực pháp luật, hiện nay tài sản này đã bị Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT tổ chức cưỡng chế để thi hành bản án số 119/2012/DS-ST ngày 22/10/2012 của T a án nhân dân huyện ĐT .
Mặt hác, theo quy định tại điể c, hoản 1, Điều 188 - Luật Đất đai nă
2013 thì ột trong những điều iện để công nhận hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thì người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa ế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất hi có các điều iện sau đây: …“c) Quyền sử dụng đất hông bị ê biên để bảo đả thi hành án”. Do hiện nay nhà đất tại số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT đang bị Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số 01/2012/QĐ-BPKCTT ngày 07/5/2012 của Tòa án nhân dân huyện ĐT bằng biện pháp “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” của vợ ch ng bà H, ông Th; và cơ quan thi hành án dân sự huyện ĐT đã thực hiện việc ê biên để đả bảo thi hành án.
Hơn nữa, việc bà Th hợp đ ng chuyển nhượng tài sản của ông Th, bà H là thông qua Hợp đ ng ủy quyền ngày 18/01/2011 giữa vợ ch ng ông Th, bà H cho bà Th. Tuy nhiên, theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự số 02/2013/QĐ-ST ngày 04/01/2013 của T a án nhân dân huyện ĐT (Bút lục 151) thì vợ ch ng ông Th, bà H tự nguyện trả cho bà Th 3,5 tỷ đ ng; bà Th tự nguyện trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất ở số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT cho ông Th, bà H; hủy bỏ Hợp đ ng ủy quyền ngày 18/01/2011 giữa vợ ch ng ông Th, bà H cho bà Th. Do đó, đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị L và chị Hoàng Ngọc Nh về việc yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và buộc vợ ch ng bà H, ông Th giao tài sản nhà đất là hông có căn cứ để chấp nhận. Do các giao dịch dân sự vô hiệu nên căn cứ Điều 137 Bộ luật dân sự thì hi giao dịch dân sự vô hiệu các bên hôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
[8] Về giải quyết hậu quả của hợp đ ng vô hiệu:
- Đối với hợp đ ng chuyển nhượng giữa bà Th và chị Nh, bà Th xác nhận đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng của chị Nh. Hợp đ ng vô hiệu do các bên đều có lỗi, được xác định tỷ lệ lỗi ỗi bên ½ (50%). Chị Nh, bà Th ỗi người phải chịu ½ giá trị chênh lệch. Sau hi trừ số tiền chuyển nhượng 1.700.000.000 đ ng đã thanh toán, cụ thể 4.902.734.400 đ ng (giá chuyển nhượng nhà đất theo giá thị trường) - 1.700.000.000 đ ng (tiền chuyển nhượng đất ban đầu) = 3.202.734.400 đ ng. Nên cần buộc bị đơn bà Th có trách nhiệ trả cho chị Nh ½ giá trị chênh lệch tương ứng với số tiền 1.601.367.000 đ ng cộng số tiền đã nhận chuyển nhượng 1.700.000.000 đ ng, tổng cộng 3.301.367.000 đ ng là phù hợp.
- Đối với hợp đ ng chuyển nhượng với bà L. Do xác định hợp đ ng chuyển nhượng nhà đất thực chất nhằ đả bảo hoản nợ vay 1.700.000.000 đ ng. Tại tòa bà Th hai thực tế bà ch nhận của bà L số tiền 745.000.000 đ ng nhưng theo tài liệu do bà xuất trình (BL360) thì số tiền chuyển nhượng sau hi cấn trừ các hoản nợ và nợ lãi bà Th vay của Bà L, số c n lại bà Th đã nhận của bà L 745.000.000 đ ng, tổng cộng là 1.700.000.000 đ ng, hơn nữa bà Th đã viết giấy xác nhận đã nhận đủ số tiền này.
Căn cứ Điều 129 Bộ luật dân sự buộc bà Th phải trả cho bà L hoản nợ gốc này và lãi suất theo quy định tính từ ngày hợp đ ng (18/01/2012 đến ngày xét xử 09/7/2018 là 06 nă 05 tháng 21 ngày). Bà Th hai hi nhận số tiền này bà L đã trừ 02 hai tháng tiền lãi là (5%/tháng) là 170.000.000 đ ng, bà L hông thừa nhận à cho rằng hoản tiền lãi này là của hai tháng trước của các hoản nợ hác ghi bên dưới, c n tiền lãi của các hoản nợ hác được trừ tiếp bên dưới là của tháng đó. Nhưng tại tài liệu (BL 360) đã ghi: “1 tỷ 700 – 170 lãi hai tháng”, c n tiền lãi của các hoản nợ hác được trừ tiếp bên dưới, hông thể hiện nội dung như Bà L trình bày, nên lời hai của bà L hông có cơ sở chấp nhận à có căn cứ xác định hoản tiền lãi này là của hoản nợ 1.700.000.000 đ ng à bà L đã trừ hi bà Th vay tiền là phù hợp. Xét thấy ức lãi (05%) vượt quá quy định nên điều ch nh lãi để trừ vào hoản nợ lãi. Cụ thể số tiền 1.700.000.000 đ ng x 0,75%/ tháng x 06 nă 05 tháng 21 ngày = 990.675.000 đ ng. Trong đó bà Th đã trả được 170.000.000 đ ng nên c n lại 820.675.000 đ ng bà Th phải trả cho bà L. Tổng cộng hoản nợ gốc và lãi bà Th phải trả cho bà L là 2.520.675.000 đ ng.
[9] Về quan hệ vay tài sản:
- Đối với khoản nợ vay 800.000.000 đồng: Theo hợp đ ng vay tiền ngày 22/11/2011 tại Văn ph ng công chứng MT thể hiện bà Th vay bà L với số tiền 800.000.000 đ ng (BL 82-84), thời hạn vay 06 tháng, lãi suất do hai bên tự thỏa thuận, việc giao nhận tiền hai bên tự thực hiện và chịu trách nhiệ . Bà L trình bày đã giao đủ cho bà Th số tiền vay, quá trình vay bà Th đã trả 45.800.000 đ ng (trong số tiền 100.000.000 đ ng đã trả). Bà Th thừa nhận có nợ Bà L số tiền 800.000.000 đ ng nợ gốc nhưng hi vay thực tế bà ch nhận 720.000.000 đ ng vì bà L đã trừ ngay tiền lãi của hai tháng là 80.000.000 đ ng, nay bà L yêu cầu trả hoản nợ gốc 800.000.000 đ ng và tiền lãi theo quy định pháp luật, bà đ ng trả nợ gốc thực tế đã nhận là 720.000.000 đ ng và lãi suất theo quy định pháp luật, nhưng bà Th hông xuất trình chứng cứ chứng inh ch nhận số tiền 720.000.000đ ng, nhưng tại giấy viết tay (BL 85) và tại bản tự hai ngày 27/9/2013 (BL117) bà Th ghi nhận có vay bà L 800.000.000 đ ng, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà L, buộc bà Th có nghĩa vụ trả cho bà L hoản nợ gốc 800.000.000 đ ng là đúng pháp luật.
Về lãi suất: Xét thấy trong hợp đ ng vay tiền hông thỏa thuận lãi, các đương sự trình bày lãi suất các bên tự thỏa thuận 05%/tháng là quá cao; bà Th chưa trả lãi đối với hoản vay này, tại phiên t a các đương sự yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật nên áp dụng theo quy định tại thời điể vay lãi suất cơ bản là 9%/nă (0,75%/tháng) để tính lãi buộc bà Th phải trả cho bà L là phù hợp. Cụ thể: Ngày 22/11/2011 vay số tiền 800.000.000 đ ng, thời hạn vay 06 tháng: từ 22/11/2011 đến ngày xét xử sơ thẩ (09/7/2018); cụ thể 800.000.000 đ ng x 0,75%/tháng x 79 tháng 16 ngày = 477.200.000 đ ng.
Bà Th trình bày khi vay bà L đã trừ số tiền lãi của hai tháng là 80.000.000 đ ng nhưng bà hông xuất trình được chứng cứ chứng inh, nên chấp nhận theo sự thừa nhận của bà L đã nhận số tiền lãi bà Th đã trả là 45.800.000 đ ng và theo tài liệu bà Th xuất trình (BL360) về hoản lãi bà đã trả cho hoản vay này 40.000.000 đ ng có cơ sở để tính toán trừ hoản lãi đã trả tất cả là 85.800.000 đ ng, số c n lại 391.400.000đ ng. Tổng cộng buộc bà Th phải trả cho bà L số tiền nợ gốc 800.000.000 đ ng và 391.400.000 đ ng nợ lãi là phù hợp.
- Đối với khoản nợ vay 310.000.000 đồng:
Căn cứ giấy viết tay vay tiền ghi ngày 27/3/2012 do bà L viết, bà Th với nội dung vay số tiền 310.000.000 đ ng (BL 85), thời hạn trả ngày 30/3/2012 (03 ngày) nhưng bà Th thừa nhận ch vay 115.000.000 đ ng nợ gốc c n lại là hoản lãi được tính ặt sau giấy và cộng chung vào gốc là 310.000.000 đ ng. Tại bản tự hai ngày 22/3/2018 (BL 504) và quá trình tha gia tố tụng, tại phiên t a bà L xác nhận yêu cầu bà Th trả hoản nợ gốc là 115.000.000 đ ng và lãi theo quy định pháp luật, phù hợp với hai nhận của bà Th nên chấp nhận yêu cầu của bà L, bà Th phải trả cho bà L hoản nợ gốc 115.000.000 đ ng là phù hợp, đúng pháp luật.
Về lãi suất: Xét thấy trong hợp đ ng vay tiền hông thỏa thuận lãi, các đương sự tự tính với nhau. Tại phiên t a các đương sự yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật nên áp dụng theo quy định tại thời điể vay lãi suất cơ bản là 9%/nă (0,75%/tháng) để tính lãi buộc bà Th phải trả cho bà L là phù hợp. Cụ thể: Ngày 27/3/2012 vay số tiền 115.000.000 đ ng, thời hạn vay 03 ngày. Lãi suất ể từ ngày 27/3/2012 đến ngày xét xử sơ thẩ 09/7/2018; cụ thể 115.000.000 đ ng x 0,75%/tháng x 75 tháng 11 ngày = 65.003.750 đ ng.
Bà L thừa nhận quá trình vay nợ bà Th đã trả cho bà số tiền 100.000.000 tiền lãi, trong đó có 45.800.000 đ ng trừ vào hoản lãi đã trả cho hoản nợ 800.000.000 đ ng, c n lại 54.200.000 đ ng cần tính toán trừ vào hoản lãi đã trả cho hoản nợ vay này, cụ thể 65.003.750 đ ng - 54.200.000 đ ng = 10.803.750đ ng. Tổng cộng buộc bà Th phải trả cho bà L số tiền nợ gốc 115.000.000 đ ng và 10.803.750đ ng nợ lãi là phù hợp.
- Đối với khoản nợ vay 440.000.000 đồng:
Theo Hợp đ ng ngày 14/11/2011 vay số tiền 440.000.000 đ ng, công chứng tại Văn ph ng công chứng MT, lãi suất thỏa thuận, thời hạn vay 2 tháng. Việc giao nhận tiền vay do hai bên tự thực hiện và chịu trách nhiệ trước pháp luật (BL 78-80). Bà L trình bày đã giao cho bà Th số tiền này ngay hi hợp đ ng vay tiền nhưng hông viết giấy nhận tiền.
Bị đơn bà Th thừa nhận đã hợp đ ng vay tiền và viết giấy đã nhận đủ số tiền 440.000.000 đ ng, đ ng thời bà đã giao cho bà L 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hẹn hô sau bà L sẽ đưa tiền cho bà nhưng bà L hông giao tiền cho bà vay như đã hẹn và trả lại cho bà các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà có yêu cầu bà L hủy hợp đ ng vay tiền và hủy giấy nhận tiền nhưng bà L không hủy giấy. Nay bà L yêu cầu đ i hoản nợ này do bà chưa nhận tiền nên bà hông đ ng trả.
Xét thấy trong hợp đ ng vay tiền thể hiện “Việc giao và nhận tiền vay do các bên thực hiện ngoài sự chứng kiến của công chứng viên”, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên t a hô nay bà L hông xuất trình chứng cứ chứng inh thực tế đã giao số tiền vay này cho bà Th, bà Th cũng hông xuất trình tài liệu chứng cứ chứng inh cho lời trình bày của ình. Nhưng theo giấy ết nợ do bà L ghi cho bà Th tổng số tiền Thảo nợ L đến ngày 19/5/2012 (BL596) do bà Th xuất trình thì hông có hoản nợ này. Nên hông có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà L về hoản nợ này.
- Đối với khoản nợ vay 400.000.000 đồng:
Tại tài liệu bút lục số 202 thể hiện “Đã nhận đủ 400.000.000 đ ng” tên Nguyễn Thị Th, hông ghi ngày tháng vay. Mặt sau của tài liệu này được ghi theo dõi trả nợ từ ngày 20/5/2011 của số tiền gốc 400.000.000 đ ng.
Tại theo giấy ết nợ do bà L ghi cho bà Th tổng số tiền Thảo nợ L đến ngày 19/5/2012 (BL595 - 596) do bà Th xuất trình thì ghi “ngày 14/6/2011: 400.000.000 đồng (HĐ nhà)”.
Bà L yêu cầu bà Th trả hoản nợ gốc này cho bà và lãi theo quy định pháp luật. Bà Th thừa nhận có vay của bà L hoản nợ này và đã trả lãi như ghi trong giấy nợ, sau hi hết hợp đ ng 06 tháng bà Th đã chuyển nhựợng cho bà L nhà đất tại đường LL, thị trấn LN, huyện ĐT để trừ hoản nợ này nhưng bà L nhờ ông Nguyễn Hữu Ch (Cháu ruột bà L) đứng tên hợp đ ng nay bà hông c n nợ nên bà hông đ ng trả nợ.
Xét thấy, tại bản tự hai ông Nguyễn Hữu Ch (BL 691) thể hiện nội dung: “ Do giữa ông và bà L có quan hệ họ hàng (Bà L là cô ruột của ông) nên ông có giúp đứng ra nhận chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị L ột diện tích đất 141,90 2 (thửa 2024, tờ bản đ số 76, LN) của bà Nguyễn Thị Th với giá 400.000.000 đ ng, sau đó ông đã chuyển tên lại cho bà L”; đ ng thời, trong thời gian trước đó bà Th có chuyển hai lần tiền qua tài hoản của ông để ông giao lại cho bà L ( ỗi lần số tiền 16.000.000 đ ng) ông đã giao đủ lại cho bà L. Tại t a bà L xuất trình giấy thỏa thuận bán nhà (BL502) và giấy xác nhận (BL500) của ông Lê Duy Th là người đã bán ngôi nhà và đất trên cho bà L, nội dung xác nhận do ông ua tài sản này của vợ ch ng ông Nguyễn Hữu Ch nay bán lại cho bà Nguyễn Thị L .
Tuy nhiên, theo h sơ do Văn ph ng đăng đất đai huyện ĐT cung cấp quá trình chuyển nhượng ngôi nhà trên diện tích đất 141,90 2 thuộc thửa 2024, tờ bản đ số 76, LN, huyện ĐT của bà Nguyễn Thị Th thể hiện tài sản này do Ủy ban nhân dân huyện ĐT cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Th. Tại hợp đ ng ngày 20/5/2011 bà Th đã chuyển nhượng tài sản này cho vợ ch ng ông Nguyễn Hữu Ch. Đến ngày 25/4/2013, vợ ch ng ông Nguyễn Hữu Ch hợp đ ng ủy quyền cho ông Lê Duy Th đại diện hợp đ ng chuyển nhượng tài sản này.
Vào ngày 01/8/2013, ông Lê Duy Th thực hiện công việc được ông Ch ủy quyền hợp đ ng chuyền nhượng QSD đất và tài sản gắn liền với đất cho bà Nguyễn Thị L đối với tài sản nêu trên. Xét thấy, qua h sơ chuyển nhượng do Văn ph ng đăng đất đai cung cấp thì việc ông Th hợp đ ng chuyển nhượng cho Bà L là thực hiện theo ủy quyền của vợ ch ng ông Ch. Mặt khác, h sơ chuyển nhượng về thời điể chuyển nhựơng, phù hợp với thời điể vay nợ giữa bà L và bà Th, phù hợp lời hai xác nhận của ông Ch.
Tuy nhiên, Bà L lại hông thừa nhận việc này và bà cho rằng bà nhận chuyển nhượng nhà đất nêu trên là từ ông Lê Duy Th. Theo bà L thì khoản nợ 400.000.000 đ ng là bà cho ông Ch vay sau đó ông Ch cho bà Th vay, đến hạn trả nợ ông Ch hông trả nên đưa bà đi gặp bà Th và ba bên cấn nợ qua. Theo đó bà L nợ phải trả số nợ 400.000.000 đ ng cho bà.
Cấp sơ thẩ chưa là rõ số nợ này xuất phát từ ông Ch chuyển giao cho bà Th hay bà Th vay của bà L à T a cấp sơ thẩ đã xác định “ngày 20/5/2011 bà Th ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất này nhằm đảm bảo khoản nợ vay 400.000.000 đồng của bà L, sau đó bà Th đã chuyển nhượng cho bà L ngôi nhà trên diện tích đất 141,90m2 (thuộc thửa 2024, tờ bản đồ số 76, thị trấn LN) để trừ khoản nợ vay này cho bà L nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà L” là là ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự.
Mặt hác, tại phiên t a phúc thẩ bà L hai nhận trong quá trình vay bà Th có thế chấp cho bà nhiều bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hiện bà c n giữ 01 bản gốc giấy chứng nhận QSD đất mang tên bà Vũ Thị L để đả bảo cho các hoản vay nợ của bà Th. Cấp sơ thẩ chưa là rõ vấn đề này để buộc Bà L trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L hay không và hông đưa bà L vào tha gia tố tụng trong vụ án này là vi phạ thủ tục tố tụng.
Do đó, cần hủy ột phần bản án sơ thẩ về số tiền nợ 400.000.000 đ ng giao h sơ cho T a án nhân dân huyện ĐT thu thập chứng cứ và là rõ hoản nợ vay này giữa bà Th, Bà L, ông Ch, là rõ việc bà Th thế chấp bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ang tên bà Vũ Thị L cho bà L và xét xử lại ới đúng quy định của pháp luật.
[10] Đối với hoản tiền 500.000.000 đ ng bà Th yêu cầu bà L trả thì bà Th chưa nộp tạ ứng án phí, trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩ bà Th đã rút yêu cầu này nên hội đ ng xét xử hông xe xét, giải quyết trong vụ án. Bà Th được quyền hởi iện bằng ột vụ án hác.
[11] Đối với hợp đ ng thuê ngôi nhà tại số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT, t nh Lâ Đ ng của vợ ch ng ông Mai Văn D, bà Phạ Thị Ki L thuê của vợ ch ng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H. Tại bản tự hai và đơn xin xét xử vắng ặt, ông bà đề nghị T a án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Ông bà hông yêu cầu giải quyết về hợp đ ng thuê nhà trong vụ án này, nếu sau này giữa ông bà và vợ ch ng ông Th, bà H có tranh chấp thì ông bà sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án hác nên Hội đ ng xét xử hông xe xét giải quyết.
Từ những phân tích trên, đình ch xét xử phúc thẩ đối với yêu cầu kháng cáo của bà Th, chị Nh.
Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của nguyên đơn bà L; chấp nhận ột phần yêu cầu háng nghị của Viện trưởng Viện iể sát nhân dân t nh Lâ Đ ng về điều ch nh lại lãi suất; hủy ột phần bản án sơ thẩ theo hướng nhận định trên là có căn cứ.
[12] Về chi phí tố tụng:
Do yêu cầu hởi iện và yêu cầu háng cáo hông chấp nhận nên bà L phải chịu chi phí thẩ định và định giá tài sản là 1.900.000 đ ng. Bà L đã quyết toán xong.
[13] Về án phí dân sự sơ thẩ các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
- Bà Nguyễn Thị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩ do hông chấp nhận yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đ ng chuyển nhượng số tiền 200.000đ ng. Và án phí do phần yêu cầu vay tài sản hông được chấp nhận 440.000.000 đ ng = 20.000.000 đ ng + 4% vượt quá 400.000.000 đ ng = 21.600.000 đ ng. Tổng cộng Bà L phải chịu 21.800.000 đ ng án phí dân sự sơ thẩ nhưng được trừ vào số tiền tạ ứng án phí đã nộp 29.500.000 đ ng theo biên lai thu tiền số AA/2012/0000120 ngày 03/01/2013 (BL52a); số tiền tạ ứng án phí đã nộp 14.250.000 đ ng theo biên lai thu tiền số AA/2010/09177 ngày 30/01/2013 (BL50); số tiền tạ ứng án phí đã nộp 5.000.000 đ ng theo biên lai thu tiền số số AA/2012/0002474 ngày 23/10/2013 (BL 139) đều của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT. Hoàn trả cho Bà L số tiền án phí tạ ứng c n dư là 26.950.000 đ ng.
- Chị Hoàng Ngọc Nh phải nộp án phí dân sự sơ thẩ do hông chấp nhận yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đ ng chuyển nhượng là 200.000 đ ng nhưng được trừ và số tiền đã nộp tạ ứng án phí 300.000 đ ng do chị Lê Thị Yến V nộp thay theo biên lai thu tiền số AA/2015/0006825 ngày 28/8/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT (BL620). Hoàn trả cho chị Nh 100.000đ ng án phí c n dư.
- Buộc bà Th phải chịu án phí (trên số tiền phải thanh toán cho Bà L 3.837.878.750 đ ng và thanh toán giá trị thiệt hại do hông tiếp tục thực hiện hợp đ ng chuyển nhượng nhà đất cho chị Nh 3.301.367.000 đ ng) = 7.139.245.750đ ng = 115.139.246 đ ng án phí dân sự sơ thẩ nhưng được giả ½ nên bà Th c n phải nộp 57.569.623 đ ng án phí dân sự sơ thẩ c n thiếu.
[14] Về án phí dân sự phúc thẩ :
- Trả lại cho ông Th, bà H số tiền 200.000đ ng tạ ứng án phí phúc thẩ
theo biên lai thu tiền số AA/2012/0005714 ngày 26/3/2014 (BL272) của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT, t nh Lâ Đ ng.
- Trả lại cho Bà L số tiền 300.000đ ng tạ ứng án phí phúc thẩ theo biên lai thu tiền số AA/2016/0006018 ngày 30/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT, t nh Lâ Đ ng.
- Buộc bà Th phải nộp số tiền 300.000đ ng án phí dân sự phúc thẩ nhưng được trừ vào số tiền 200.000 đ ng theo biên lai thu số AA/2012/0005672 ngày 10/3/2014 (BL241) và số tiền 300.000 đ ng tạ ứng án phí phúc thẩ theo biên lai thu tiền số AA/2016/0006020 ngày 30/7/2018 đều của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT, t nh Lâ Đ ng; Hoàn trả cho bà Th số tiền 200.000 đ ng theo biên lai thu số AA/2012/0005672 ngày 10/3/2014 của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT.
- Buộc chị Nh phải nộp số tiền 300.000đ ng án phí dân sự phúc thẩ nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ ng tạ ứng án phí phúc thẩ theo biên lai thu tiền số AA/2016/0006019 ngày 30/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT, t nh Lâ Đ ng.
Vì các lẽ trên;
Q YẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 2 Điều 312, Khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự nă 2015;
- Áp dụng Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đ ng Thẩ phán T a án nhân dân tối cao và Pháp lệnh về lệ phí, án phí T a án nă 2009; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về ức thu, iễn giả , thu nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án. Xử:
1/ Đình ch xét xử phúc thẩ đối với yêu cầu háng cáo của bà Nguyễn Thị Th và chị Hoàng Ngọc Nh.
2/ Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của nguyên đơn Bà L; chấp nhận ột phần yêu cầu háng nghị của Viện trưởng Viện iể sát nhân dân t nh Lâ Đ ng.
2.1/ Về quan hệ tranh chấp hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất:
- Tuyên bố hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa chị Hoàng Ngọc Nh và bà Nguyễn Thị Th ngày 07/01/2012 tại Văn ph ng công chứng VL và hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị Th xác lập ngày 18/01/2012 tại Văn Ph ng công chứng số x (đối với nhà đất diện tích đất 127,04 m2 thuộc thửa 1055, tờ bản đ số 57 ở số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT đã được Ủy ban nhân dân huyện ĐT cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cho vợ ch ng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H ngày 28/7/2002) là vô hiệu.
- Hủy bỏ toàn bộ hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa chị Hoàng Ngọc Nh và bà Nguyễn Thị Th xác lập ngày 07/01/2012 tại Văn ph ng công chứng VL và hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị Th xác lập ngày 18/01/2012 tại Văn Ph ng công chứng số x (đối với nhà đất diện tích đất 127,04 2 thuộc thửa 1055, tờ bản đ số 57 ở số x HBT, thị trấn LN, huyện ĐT đã được Ủy ban nhân dân huyện ĐT cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cho vợ ch ng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H ngày 28/7/2002).
- Buộc bà Nguyễn Thị Th có nghĩa vụ trả cho chị Hoàng Ngọc Nh số tiền 3.301.367.000 đ ng tiền chuyển nhượng nhà đất;
- Buộc bà Nguyễn Thị Th có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 2.520.675.000 đ ng, trong đó nợ gốc 1.700.000.000 đ ng, tiền lãi 820.675.000 đ ng.
- Buộc bà Nguyễn Thị L giao lại cho vợ ch ng ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Kim H giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hiệu số 4203010481 do Ủy ban nhân dân huyện ĐT cấp cho vợ ch ng ông bà Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H ngày 28/7/2002.
2.2/ Về quan hệ tranh chấp hợp đ ng dân sự vay tài sản:
- Hủy ột phần bản án sơ thẩ liên quan đến hoản nợ của bà Nguyễn Thị Th và bà Nguyễn Thị L đối với số tiền 400.000.000 đ ng theo giấy nhận nợ ngày 14/6/2011; giao h sơ cho T a án nhân dân huyện ĐT giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩ đối với hoản nợ vay 400.000.000 đ ng theo giấy nhận nợ ngày 14/6/2011.
- Chấp nhận ột phần yêu cầu hởi iện của bà Nguyễn Thị L . Buộc bà Nguyễn Thị Th có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 1.317.203.750 đ ng (trong đó nợ gốc 915.000.000đ ng, nợ lãi 402.203.750đ ng).
- Bác yêu cầu hởi iện của bà Nguyễn Thị L đối với yêu cầu hởi iện buộc bà Nguyễn Thị Th thanh toán số tiền nợ vay là 440.000.000 đ ng theo hợp đ ng vay ngày 14/11/2011.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án c n phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậ trả theo ức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.
3/ Về án phí dân sự sơ thẩ :
- Bà Nguyễn Thị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩ là 21.800.000 đ ng án phí dân sự sơ thẩ nhưng được trừ vào số tiền tạ ứng án phí đã nộp 29.500.000 đ ng theo biên lai thu tiền số AA/2012/0000120 ngày 03/01/2013; số tiền tạ ứng án phí đã nộp 14.250.000 đ ng theo biên lai thu tiền số AA/2010/09177 ngày 30/01/2013; số tiền tạ ứng án phí đã nộp 5.000.000 đ ng theo biên lai thu tiền số số AA/2012/0002474 ngày 23/10/2013 đều của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT. Hoàn trả cho bà L số tiền án phí tạ ứng c n dư là 26.950.000 đ ng.
- Chị Hoàng Ngọc Nh phải nộp án phí dân sự sơ thẩ là 200.000 đ ng nhưng được trừ và số tiền đã nộp tạ ứng án phí 300.000 đ ng do chị Lê Thị Yến V nộp thay theo biên lai thu tiền số AA/2015/0006825 ngày 28/8/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT. Hoàn trả cho chị Nh 100.000đ ng án phí c n dư.
- Buộc bà Nguyễn Thị Th phải nộp án phí dân sự sơ thẩ là 57.569.623 đ ng.
4/ Về án phí dân sự phúc thẩ :
- Trả lại cho ông Ngô Văn Th, bà Hà Thị Ki H số tiền 200.000đ ng tạ ứng án phí phúc thẩ theo biên lai thu tiền số AA/2012/0005714 ngày 26/3/2014 của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT, t nh Lâ Đ ng.
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị L số tiền 300.000đ ng tạ ứng án phí phúc thẩ
theo biên lai thu tiền số AA/2016/0006018 ngày 30/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT, t nh Lâ Đ ng.
- Buộc bà Nguyễn Thị Th phải nộp số tiền 300.000đ ng án phí dân sự phúc thẩ nhưng được trừ vào số tiền 200.000 đ ng theo biên lai thu số AA/2012/0005672 ngày 10/3/2014 và số tiền 300.000 đ ng tạ ứng án phí phúc thẩ theo biên lai thu tiền số AA/2016/0006020 ngày 30/7/2018 đều của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT, t nh Lâ Đ ng; Hoàn trả cho bà Th số tiền 200.000 đ ng theo biên lai thu số AA/2012/0005672 ngày 10/3/2014 của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT.
- Buộc chị Hoàng Ngọc Nh phải chịu số tiền 300.000đ ng án phí dân sự phúc thẩ nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ ng tạ ứng án phí phúc thẩ theo biên lai thu tiền số AA/2016/0006019 ngày 30/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐT, t nh Lâ Đ ng.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung nă 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung nă 2015; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung nă 2015”.
Bản án phúc thẩ có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND t nh Lâ Đ ng; - TAND H. ĐT; - CCTHADS H. ĐT; - Phòng KTNV&THA; - Các đương sự; - Lưu AV – HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Bùi Hữu Nhân |