vanban.org

Bản án 143/2025/HNGĐ — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến Đ.

Xác định anh Nguyễn Tiến Đ là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên Lưu Trà M, sinh ngày 19/01/2023 theo Giấy chứng sinh số 7842, quyển số 2023, cấp ngày 19/01/2023 của Trung tâm Y tế huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Về chi phí giám định: Căn cứ các Điều 160, 161, 162 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Tiến Đ- Lưu Thị L"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến Đ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHIÊM HÓA
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2025/HNGĐ-
ST
Ngày: 16-6-2025
V/v “Tranh chấp về
xác định cha cho con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Bích Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Thanh Tùng;

2. Bà Trần Thị Hường.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Vân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Đàm Như Hiển - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 73/2025/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp về xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/5/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

- Bị đơn: Chị Lưu Thị L, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

(Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Tòng Văn H, sinh năm 1989. Địa chỉ: Bản C, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái (vắng mặt lần 2 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Tiến Đ trình bày:

Năm 2022 anh Đ có chung sống như vợ chồng với chị Lưu Thị L, sinh năm 1988; khi đó chị L đang cư trú tại Bản Có Thái, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái và đang trong thời kỳ hôn nhân với anh Tòng Văn H, sinh năm 1989; cư trú Bản Có Thái, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái. Khi anh Đ chung sống cùng chị L thì được biết chị L và anh H đang sống ly thân với nhau. Anh Đ và chị L có quan hệ tình cảm với nhau, đến ngày 19/01/2023 chị L sinh 01 cháu gái dự định đặt tên là Lưu Trà M. Cháu M được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị L và anh Tòng Văn H nhưng anh Đ được biết cháu M không phải là con của chị L anh H mà là con của anh Đ và chị L. Do cháu M được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của chị L với anh Tòng Văn H nên mặc dù anh Đ và chị L đã đăng ký kết hôn ngày 17/02/2025 nhưng đến nay anh Đ vẫn chưa đăng ký khai sinh được cho cháu M. Nay anh Đ đề nghị Tòa án xác định anh Nguyễn Tiến Đ là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên Lưu Trà M, sinh ngày 19/01/2023 theo Giấy chứng sinh số 7842 quyển sổ 2023, cấp ngày 19/01/2023 của Trung tâm Y tế huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án chị Lưu Thị L trình bày:

Chị L và anh Nguyễn Tiến Đ đã chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2022. Khi chị L và anh Đ chung sống với nhau thì chị L vẫn đang trong thời kỳ hôn nhân với anh Tòng Văn H, sinh năm 1989, địa chỉ Bản C, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái. Tại thời điểm sống chung với anh Đ thì chị L và anh H đang sống ly thân.

Sau một thời gian chung sống đến tháng 5 năm 2022 chị L có thai, đến ngày 19/01/2023 chị L sinh 01 con gái tại Trung tâm Y tế huyện C, dự định đặt tên là Lưu Trà M; chị L khẳng định cháu bé dự định đặt tên Lưu Trà M này là con của chị L và anh Đ. Đến ngày 17/02/2025 chị L và anh Đ đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C, sau khi đăng ký kết hôn anh Đ và chị L vẫn chưa đăng ký khai sinh được cho cháu Lưu Trà M. Để có căn cứ chứng minh cháu bé Lưu Trà M là con đẻ của chị L và anh Nguyễn Tiến Đ nên anh Đ đã làm đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa yêu cầu xác định anh Đ là cha đẻ của cháu Lưu Trà M.

Chị L nhất trí với yêu cầu khởi kiện của anh Đ về việc xác định anh Nguyễn Tiến Đ là cha đẻ của cháu bé đự định đặt tên Lưu Trà M, sinh ngày 19/01/2023 tại Giấy chứng sinh số 7842, quyển số 2023, cấp ngày 19/01/2023 của Trung tâm Y tế huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tòng Văn H vắng mặt tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, phiên hòa giải nên không có ý kiến trình bày với các ý kiến khởi kiện của nguyên đơn, cũng như các ý kiến trình bày của bị đơn.

Theo Kết quả xét nghiệm ADN của Công ty TNHH C, kết luận: Nguyễn Đức T, sinh ngày 06/5/1994, Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, ngày cấp 13/6/2023, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội) có quan hệ huyết thống B - Con với người có tên dự kiến Lưu Trà M, sinh ngày 19/01/2023 theo Giấy chứng sinh số 7842, quyển số 2023, cấp ngày 19/01/2023 của Trung tâm Y tế huyện C, tỉnh Tuyên Quang, độ tin cậy trên 99,999999%.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn anh Nguyễn Tiến Đ và bị đơn chị Lưu Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết tại Tòa án. Đề nghị Tòa án xác định anh Nguyễn Tiến Đ là cha đẻ của cháu bé đự định đặt tên Lưu Trà M, sinh ngày 19/01/2023 tại Giấy chứng sinh số 7842, quyển số 2023, cấp ngày 19/01/2023 của Trung tâm Y tế huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Anh Đ nhận chịu toàn bộ chi phí giám định gen và có đơn xin miễn toàn bộ tiền án phí.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tòng Văn H vắng mặt, không có ý kiến trình bày về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa về việc giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 88, 89, 91, 101, 102 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 28, các Điều 147, 160, 161, 162, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “tranh chấp về xác định cha cho con” của anh Nguyễn Tiến Đ: Xác định cháu bé dự định đặt tên Lưu Trà M, sinh ngày 19/01/2023 tại Giấy chứng sinh số 7842, quyển số 2023, cấp ngày 19/01/2023 của Trung tâm Y tế huyện C, tỉnh Tuyên Quang là con của anh Nguyễn Tiến Đ.

Anh Nguyễn Tiến Đ nhận chịu toàn bộ chi phí giám định, do anh Đ đã nộp tạm ứng chi phí giám định là 6.600.000đ (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng), nên anh Đ không phải nộp thêm.

Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Tiến Đ được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm xác định cha cho con theo quy định, các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng.

Anh Nguyễn Tiến Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giải quyết Tranh chấp về xác định cha cho con với chị Lưu Thị L; chị Lưu Thị L có hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ theo khoản 4 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về "Tranh chấp về xác định cha cho con" và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 227, 228, 238 xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

Về nội dung vụ án.

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện, chị Lưu Thị L có đăng ký kết hôn với anh Tòng Văn H, sinh năm 1989, địa chỉ: Bản C, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái, quá trình chung sống chị L và anh H nảy sinh mâu thuẫn nên anh chị đã sống ly thân. Đến ngày 23/8/2024 chị Lưu Thị L và anh Tòng Văn H ly hôn tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 28/2024/QĐCNTTLH của Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.

Trong thời gian sống ly thân với anh Tòng Văn H, chị Lưu Thị L có quen biết và chung sống như vợ chồng với anh Nguyễn Tiến Đ từ năm 2022, đã sinh một bé gái dự định đặt tên Lưu Trà M, sinh ngày 19/01/2023 tại Giấy chứng sinh số 7842, quyển số 2023, cấp ngày 19/01/2023 của Trung tâm Y tế huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Chị L, anh Đ đều thừa nhận, cháu bé dự định đặt tên Lưu Trà M do chị L sinh là con đẻ của anh Nguyễn Tiến Đ.

Cháu bé dự định đặt tên Lưu Trà M được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Lưu Thị L và anh Tòng Văn H. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 28/2024/QĐCNTTLH của Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái không thể hiện cháu bé dự định đặt tên Lưu Trà M là con chung của chị L và anh H.

Lời khai của chị Lưu Thị L, anh Nguyễn Tiến Đ phù hợp với Kết quả xét nghiệm ADN của Công ty TNHH C, kết luận: Nguyễn Đức T, sinh ngày 06/5/1994, Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, ngày cấp 13/6/2023, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội) có quan hệ huyết thống B - Con với người có tên dự kiến Lưu Trà M, sinh ngày 19/01/2023 theo Giấy chứng sinh số 7842, quyển số 2023, cấp ngày 19/01/2023 của Trung tâm Y tế huyện C, tỉnh Tuyên Quang, độ tin cậy trên 99,999999%.

Từ những phân tích nêu trên, căn cứ vào các Điều 88, 89, 91, 101, 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Tiến Đ xác định anh Nguyễn Tiến Đ là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên Lưu Trà M, sinh ngày 19/01/2023 theo Giấy chứng sinh số 7842, quyển số 2023, cấp ngày 19/01/2023 của Trung tâm Y tế huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

Về chi phí giám định ADN: Anh Nguyễn Tiến Đ nhận chịu toàn bộ chi phí giám định là là 6.600.000đ (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng), do anh Nguyễn Tiến Đ đã nộp 6.600.000đ (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng chi phí giám định, nên anh Đ không phải nộp thêm chi phí giám định theo quy định tại các Điều 160, 161, 162 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm về xác định cha cho con cho anh Đ, do anh Đ có đơn xin miễn án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xác định cha cho con.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 88, 89, 91, 101, 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến Đ.

1. Xác định anh Nguyễn Tiến Đ là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên Lưu Trà M, sinh ngày 19/01/2023 theo Giấy chứng sinh số 7842, quyển số 2023, cấp ngày 19/01/2023 của Trung tâm Y tế huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

2. Về chi phí giám định: Căn cứ các Điều 160, 161, 162 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Tiến Đ nhận chịu toàn bộ chi phí giám định là 6.600.000đ (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng), do anh Nguyễn Tiến Đ nộp là 6.600.000đ (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng chi phí giám định, nên anh Đ không phải nộp thêm chi phí giám định.

3. Về án phí:

Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm về xác định cha cho con cho anh Nguyễn Tiến Đ.

Chị Lưu Thị L không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm xác định cha cho con.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ