vanban.org

Bản án 143/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bích T. 1/ Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Bích T được ly hôn với anh Nguyễn Út A. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2024/HNGĐ-ST
Ngày 10-4-2024
V/v: “Tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Tới

2. Bà Nguyễn Kim Lên

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa - Thư ký viên, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 10 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1991.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Út A, sinh năm 1991.

Cùng địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.

(Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích T trình bày:

Về hôn nhân:

Chị và anh Út A chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Trong cuộc sống do bất đồng ý kiến, dẫn đến vợ chồng cãi nhau, làm cho cuộc sống không còn hạnh phúc nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với anh Út A.

Về con chung:

Vợ chồng có 03 người con chung là Nguyễn Ngọc Mỹ K, sinh ngày 27/9/2009 (giới tính: Nữ), Nguyễn Hoàng Đại L, sinh ngày 11/6/2014 (giới tính: Nam), Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 24/6/2019 (giới tính: Nữ).

Khi ly hôn, chị yêu cầu được quyền nuôi 03 cháu, yêu cầu anh Út A phải có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản, nợ: Không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay, chị T yêu cầu Toà án xét xử vắng mặt theo quy định.

- Đối với bị đơn: Anh Nguyễn Út A:

Khi thụ lý, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết đúng theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.

Vụ án, được Tòa án tiến hành công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được, do bị đơn vắng mặt.

Tại Biên bản ghi nhận ý kiến ngày 25/3/2024 đối với của cháu Mỹ K và cháu L, các cháu đều có nguyện vọng được sống chung với chị T.

Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt, nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bảo lưu ý kiến như tại đơn khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về sự vắng mặt của đương sự:

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Căn cứ các điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử cần xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên, là phù hợp.

Về quan hệ pháp luật:

Được xác định là “Tranh chấp về Ly hôn”, đồng thời các đương sự đều có nơi cư trú Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Từ đó, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

- Về hôn nhân:

Chị T và anh Út A tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau, nên hôn nhân được xem là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Quá trình chung sống, giữa chị T và anh Út A phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không quan tâm chăm sóc đến nhau, nên chị T mới nộp đơn ly hôn với anh Út A. Đối với anh Út A vắng mặt, không tham gia tố tụng và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến phản hồi gì trước yêu cầu ly hôn của chị T theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Cho thấy, bị đơn đã không quan tâm đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình với nguyên đơn và nay chị T kiên quyết ly hôn với anh Út A.

Theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và có nghĩa vụ chung sống với nhau.

Xét, mâu thuẫn giữa chị T và anh Út A đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ được chấp nhận.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn là phù hợp với Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung:

Chị T và anh Út A có 03 người con chung là Nguyễn Ngọc Mỹ K, sinh ngày 27/9/2009 (giới tính: Nữ), Nguyễn Hoàng Đại L, sinh ngày 11/6/2014 (giới tính: Nam), Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 24/6/2019 (giới tính: Nữ).

Khi ly hôn chị T yêu cầu được quyền nuôi 03 cháu, đối với anh Út A vắng mặt, nên không có cơ sở xem xét.

Đối với cháu Mỹ K và cháu L tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 10/4/2024, là trên 07 tuổi, dưới 18 tuổi. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “...; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Tại Biên bản ghi nhận ý kiến ngày 25/3/2024 đối với của cháu Mỹ K và cháu L, thì các cháu đều có nguyện vọng được sống chung với chị T, còn cháu N hiện do chị T nuôi dưỡng.

Do đó, Hội đồng xét xử xét vì lợi ích của con chung, tôn trọng nguyện vọng của các cháu, cũng như theo yêu cầu khởi kiện của chị T, nên cần giao 03 cháu cho chị T nuôi dưỡng, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng:

Tại Đơn khởi kiện ngày 16/10/2023, chị T yêu cầu anh Út A phải cấp dưỡng nuôi mỗi cháu số tiền 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Theo quy định tại Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, ..., trong trường hợp không sống chung với con”.

Ở vụ án này, 03 cháu đã được giao cho chị T nuôi dưỡng, không sống chung với anh Út A, nên anh Út A phải là người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 03 cháu theo yêu cầu của chị T là có căn cứ. Đối với, anh Út A vắng mặt nên không có cơ sở để xem xét.

Căn cứ các điều 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và hướng dẫn tại khoản 2, mục III - Công văn số 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của Tòa án nhân dân tối cao, cần buộc anh Út A phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 03 cháu số tiền 1.000.000 đồng/tháng/cháu cho đến khi 03 cháu đủ 18 tuổi, thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày 10/4/2024.

- Về tài sản, nợ: Chị T không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.

Về án phí:

Chị T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng.

Buộc anh Út A phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Các điều 147, 227, 228, 235, 238, 273, 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Các điều 19, 51, 56, 55, 57, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Điều 26 của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bích T.

1/ Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Bích T được ly hôn với anh Nguyễn Út A.

2/ Về con chung:

Giao các cháu Nguyễn Ngọc Mỹ K, sinh ngày 27/9/2009 (giới tính: Nữ), Nguyễn Hoàng Đại L, sinh ngày 11/6/2014 (giới tính: Nam), Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 24/6/2019 (giới tính: Nữ) cho chị Nguyễn Thị Bích T được quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp, bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3/ Về cấp dưỡng:

Buộc anh Nguyễn Út A phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các cháu Nguyễn Ngọc Mỹ K, sinh ngày 27/9/2009 (giới tính: Nữ), Nguyễn Hoàng Đại L, sinh ngày 11/6/2014 (giới tính: Nam), Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 24/6/2019 (giới tính: Nữ) với mỗi cháu số tiền 1.000.000 đồng - Một triệu đồng/tháng, cho đến khi 03 cháu (M, Đ, An N) đủ 18 tuổi.

Thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày 10/4/2024.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người bị thi hành án không thi hành xong khoản tiền trên, người bị thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

4/ Về tài sản, nợ: Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.

5/ Về án phí:

Buộc chị Nguyễn Thị Bích T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), đối trừ số tiền 300.000 đồng mà chị T dự nộp tại biên lai 4475 ngày 06/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, nay được chuyển thu đối trừ.

Buộc anh Nguyễn Út A phải nộp 300.000 đồng – Ba trăm ngàn đồng, án phí cấp dưỡng.

6/ Về quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ