vanban.org

Bản án 143/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 26/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

52; Điều 17, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án Về trách nhiệm hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Tấn K - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 52; Điều 17, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 143/2023/HS-ST
Ngày: 26 – 5 – 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐTHUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Túy Phƣợng.

2/ Bà Trần Ngọc Phƣơng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thƣ ký Toà án nhân dân

thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình

Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An,

tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 117/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 117/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Huỳnh Tấn K (tên gọi khác: G), sinh ngày 01 tháng 02 năm 1988 tại tỉnh

Long An; nơi thƣờng trú: Ấp C, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông L và bà M; bị cáo chƣa có vợ, con;

Tiền án: Ngày 21/6/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An xử

phạt 01 năm tù về tội Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có theo Bản án số 80/2021/HS-ST. Chấp hành án tại Trại giam T - Cục C10 - Bộ Công an đến ngày 14/3/2022 thì chấp hành xong.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 26/4/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An xử

phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 16/2018/HSST, chấp hành án tại Trại giam T - Cục C10 - Bộ Công An đến ngày 30/01/2019 thì chấp hành xong, đã đóng án phí hình sự sơ thẩm ngày 15/8/2018.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21 tháng 12 năm 2022 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông L, sinh năm 2004; nơi cƣ trú: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh An

Giang; chỗ ở: Khu phố H, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Huỳnh Tấn K không có nghề nghiệp ổn định, không có tiền tiêu xài và có

mối quan hệ quen biết ngoài xã hội với đối tƣợng tên T. Ngày 19/12/2022, K gặp T tại khu vực khu công nghiệp S, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng để bàn bạc với nhau về việc T và K tìm tài sản là xe mô tô của ngƣời khác để trộm cắp rồi đƣa cho K điều khiển về khu vực tỉnh Long An giao cho đối tƣợng tên L thì K sẽ nhận đƣợc số tiền là 1.100.000 đồng.

Thực hiện ý định, khoảng 07 giờ 30 phút ngày 20/12/2022, Huỳnh Tấn K đi xe

buýt từ ngã tƣ cầu vƣợt S, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đến khu vực ngã tƣ G, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng gặp T. Tại đây, T điều khiển xe mô tô kiểu dáng Exciter màu đen (không rõ biển số) chở K cùng 01 đối tƣợng khác (không rõ lai lịch, địa chỉ) đi đến 01 bãi đất trống (không rõ địa chỉ cụ thể) thuộc khu vực phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng rồi nói K ngồi tại đây chờ T đi tìm tài sản trộm cắp. Cùng lúc, L điều khiển xe mô tô hiệu Honda Sonic 150 màu đen mờ (chƣa gắn biển số) đi đến Công ty H tại địa chỉ: khu phố B, phƣờng C, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng làm việc. Do còn sớm nên L đi đến quán cơm cạnh công ty để ăn sáng, L để xe mô tô trên tại bãi đất trống cạnh quán cơm. Khoảng 10 phút sau L phát hiện xe mô tô bị mất trộm nên L đi theo định vị đƣợc gắn trên xe mô tô đến khu vực đƣờng T, phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng thì mất định vị nên L đến Công an phƣờng H trình báo, đồng thời liên lạc nhờ ngƣời tìm giúp xe mô tô.

Đối tƣợng T đi đƣợc khoảng 20 phút thì quay trở lại và giao 01 xe mô tô

hiệu Honda Sonic 150 màu đen mờ (chƣa gắn biển số) cùng 01 thiết bị phá sóng cho K để K điều khiển xe mô tô trên từ tỉnh Bình Dƣơng đi về huyện Đ, tỉnh Long An giao cho đối tƣợng L. Khi K đi đến địa bàn tỉnh lộ 7, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh thì bị lực lƣợng Công an xã T kiểm tra, bắt giữ và trình báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp nhận, xử lý theo quy định.

Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, L nhận đƣợc thông báo từ Công an

xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh đã bắt đƣợc đối tƣợng cùng tang vật là xe mô tô hiệu Honda Sonic 150 màu đen mờ (chƣa gắn biển số) của L nên L đã đi đến Công an phƣờng C trình báo vụ việc. Qua điều tra, bị cáo Huỳnh Tấn K đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Sonic 150 màu đen mờ

(chƣa gắn biển số), số khung: MH1KB1119MK282238, số máy: KB11E-1281935; 01 (một) bộ phá sóng màu đen hình chữ nhật dài 15cm, rộng 4,5cm.

Tại Biên bản định giá và Bản kết luận định giá tài sản ngày 28 tháng 12

năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An kệt luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sonic 150, số khung: MH1KB1119MK282238, số máy: KB11E-1281935, chƣa gắn biển số (tình trạng: mới mua ngày 01/12/2022) có trị giá: 45.000.000 đồng (Bốn mƣơi lăm triệu đồng).

Bản Cáo trạng số 134/CT-VKS-TA ngày 17 tháng 4 năm 2023 của Viện

kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Huỳnh Tấn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình

Dƣơng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s

khoản 1, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn K từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Sonic 150 màu đen mờ (chƣa gắn

biển số), số khung: MH1KB1119MK282238, số máy: KB11E-1281935 là vật chứng thu giữ trong vụ án, quá trình điều tra, xác định là tài sản do L đứng tên chủ sở hữu (xe mới mua), Cơ quan điều tra trả lại cho bị hại L là có căn cứ.

Đối với 01 (một) bộ phá sóng màu đen hình chữ nhật dài 15cm, rộng 4,5cm

là vật chứng thu giữ trong vụ án, quá trình điều tra, xác định là công cụ do Huỳnh Tấn K sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại đã đƣợc nhận lại tài sản

và không yêu cầu bồi thƣờng nên không đề nghị xem xét.

Đối với đối tƣợng T đã cùng thực hiện hành vi phạm tội với Huỳnh Tấn K

và đối tƣợng L là ngƣời nhận tiêu thụ tài sản do trộm cắp mà có tại địa bàn khu vực huyện Đ, tỉnh Long An, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhƣng chƣa xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ nên cần tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh,

khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố

Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và các đƣơng sự không có ý kiến hoặc không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Huỳnh Tấn K đã khai nhận toàn bộ hành

vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Huỳnh Tấn K nghe lời rủ rê của đối tƣợng tên T (không rõ lai lịch,

địa chỉ) và đồng ý cùng với T đi tìm tài sản của ngƣời khác sơ hở để chiếm đoạt. Ngày 20/12/2022, tại khu phố B, phƣờng C, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, theo sự bàn bạc giữa bị cáo K và đối tƣợng T, bị cáo Huỳnh Tấn K ngồi chờ đối tƣợng T thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Sonic 150 màu đen mờ (chƣa gắn biển số) của bị hại L có trị giá: 45.000.000 đồng (Bốn mƣơi lăm triệu đồng) và nhận xe đã chiếm đoạt điều khiển đi về huyện Đ, tỉnh Long An giao cho đối tƣợng L. Trong vụ án này, Huỳnh Tấn K là đồng phạm giúp sức cho đối tƣợng T thực hiện hành vi phạm tội, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh, khung hình phạt nhƣ nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền

sở hữu về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng nơi xảy ra vụ án. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi giúp sức cùng với đồng phạm lén lút chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị trừng trị nhƣng vì động cơ tham lam, tƣ lợi nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng phạm tội trộm cắp tài sản và bị xử phạt và

cải tạo nhƣng không lấy đó làm bài học, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 21/6/2021 bị Tòa án

nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có” theo Bản án số 80/2021/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù giam, chƣa đƣợc xóa án tích lại phạm tội mới với lỗi cố ý nên thuộc trƣờng hợp “tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại

phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Lời đề nghị mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là

có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Sonic 150 màu đen mờ (chƣa gắn

biển số), số khung: MH1KB1119MK282238, số máy: KB11E-1281935 là tài sản do L, Cơ quan điều tra trả lại cho ông L là đúng quy định.

- Đối với 01 (một) bộ phá sóng màu đen hình chữ nhật dài 15cm, rộng

4,5cm là công cụ do Huỳnh Tấn K sử dụng để thực hiện hành vi phạm cần tịch thu, tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi

thƣờng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với đối tƣợng tên T đã cùng thực hiện hành vi phạm tội với Huỳnh

Tấn K và đối tƣợng L là ngƣời nhận tiêu thụ tài sản do trộm cắp mà có tại địa bàn huyện Đ, tỉnh Long An, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhƣng chƣa xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ nên cần tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau khi có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều

52; Điều 17, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm

2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn K 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt

tù tính từ ngày 21/12/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bộ phá sóng màu đen hình

chữ nhật dài 15cm, rộng 4,5cm.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/4/2023 giữa Công an thành

phố Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

3. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Tấn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn

đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn

15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ