- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc C Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số:143/2023/HS-ST Ngày: 20 - 7 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Thị Vân Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Thưởng
Ông Păng Ting Nôck
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Ngọc Hoàng Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ - tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 176/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2023/QĐXXST - HS ngày 07/7/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 09/02/1994, tại: Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 06, Đồi Mai Anh, phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Số 06, Đồi Mai Anh, phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; Con ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1962 và bà Lê Thị N, sinh năm 1960; vợ: Đỗ Thị Ngọc B, sinh năm 1992; con Nguyễn Hoàng Ngọc Nh, sinh năm 2014, Nguyễn Hoàng Ngọc Q, sinh năm 2019; chức cụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 27/7/2012, bị Công an phường G, thành phố Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong.
- Tại Bản án số 160/2015/HSST ngày 27/8/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Đ xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tại Bản án số 06/2020/HSST ngày 20/02/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đ xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 07/3/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc C sử dụng ma túy đá từ năm 2022 đến nay. Vào lúc 23 giờ, ngày 06/3/2023, C gặp và mua của một người tên đàn ông tên Ch (không rõ nhân thân, lai lịch) 2.400.000 đồng được 01 gói ma túy đá, giao dịch mua bán tại đoạn đường Khu C5, Phường D, thành phố Đ, Lâm Đồng. Sau khi mua được ma túy, C mang gói ma túy này đến Khu vực Mã Thánh, thành phố Đ lấy một ít ma túy đá ra sử dụng một mình, số ma túy còn lại C chia nhỏ thành 08 (tám) gói và bỏ trong một hộp kim loại màu đen, cất trong túi áo khoác đang mặc. Đến 02 giờ, ngày 07/03/2023, C đang đi đến trước nhà số 95 Trạng Trình, Phường H, thành phố Đ thì bị Công an Phường H, thành phố Đ kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang C đang cất giữ 08 gói ma túy đá trong hộp kim loại để trong túi áo trước ngực bên trái phía trong áo khoác C đang mặc. Công an phường H đã lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong tang vật theo quy định.
Tang vật thu giữ: 01 hộp kim loại màu đen có kích thước khoảng 5cm x 3cm bên trong có chứa: 08 gói nylon màu trắng trong được hàn kín, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
Tại bản kết luận giám định số: 269/KL-KTHS ngày 10/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong tám gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,2067g, loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số 177/CT-VKSĐL-LĐ ngày 26/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc C khai nhận, bản thân bị cáo là người sử dụng ma túy từ năm 2022. Vào lúc 23 giờ, ngày 06/3/2023, bị cáo gặp và mua của một người tên đàn ông tên Ch (không rõ nhân thân, lai lịch) 2.400.000 đồng được 01 gói ma túy đá, giao dịch mua bán tại đoạn đường Khu C5, Phường D, thành phố Đ, Lâm Đồng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo mang gói ma túy này đến khu vực Mã Thánh, Phường F, thành phố Đ lấy một ít ma túy đá ra sử dụng một mình, số ma túy còn lại bị cáo chia nhỏ thành 08 (tám) gói và bỏ trong một hộp kim loại màu đen, cất trong túi áo khoác đang mặc để sử dụng dần. Đến 02 giờ, ngày 07/03/2023, bị cáo đang đi đến trước nhà số 95 Trạng Trình, Phường H, thành phố Đ thì bị Công an Phường H, thành phố Đ kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc C từ 30 đến 36 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử lý vật chứng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Ngọc C: Do là người nghiện ma túy nên vào lúc 23 giờ, ngày 06/3/2023, bị cáo gặp và mua của một người tên đàn ông tên Ch (không rõ nhân thân, lai lịch) 2.400.000 đồng được 01 gói ma túy đá, giao dịch mua bán tại đoạn đường khu C5, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng để sử dụng. Sau đó bị cáo cất giữ ma túy trong người để khi nào có nhu cầu thì sử dụng. Ngày 09/11/2022, bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ mới lên làm việc do có liên quan đến vụ án Cố ý gây thương tích, tại đây, bị cáo khai có sử dụng ma túy đá và tự giác giao nộp một đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy đá, CSĐT Công an thành phố Đ lập biên bản thu giữ và niêm phong. Tại kết luận giám định số 269/KL-KTHS ngày 10/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong tám gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,2067g, loại Methamphetamine.
Xét thấy, bị cáo Nguyễn Ngọc C là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và là đối tượng sử dụng ma túy. Bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng là đối tượng nghiện ma túy và để có ma túy sử dụng, bị cáo vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Hành vi của Nguyễn Ngọc C không chỉ vi phạm pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương mà còn là một trong những nguyên nhân góp phần gây ra những tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có nhân thân xấu, sau khi chấp hành xong hình phạt tù của các bản án trước bị cáo không lấy đó làm gương để tu dưỡng bản thân mà còn thực hiện hạnh vi phạm tội, thể hiện thái độ liều lĩnh, coi thường pháp luật. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp lời khai của bị cáo và tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận hành vi của Nguyễn Ngọc C phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 177/CT-VKSĐL-LĐ ngày 26/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ: Do bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là phù hợp.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng tên Ch là người đã bán ma túy cho Nguyễn Ngọc C nên chưa có căn cứ để xử lý, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra đã thu giữ tang vật gồm: 01 hộp kim loại màu đen có kích thước khoảng 5cm x 3cm bên trong có chứa: 08 gói nylon màu trắng trong được hàn kín, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy loại Methamphetamine (đã được niêm phong sau khi giám định) đây là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc C 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 3 năm 2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a và c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 và 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy tang vật gồm:
- 01 (một) phong bì niêm phong màu trắng có ghi số 269/2023-PC09, Vụ: Nguyễn Ngọc C - 1994; HKTT: Số 06 đồi Mai Anh, phường E, Đ, Lâm Đồng, QĐTC:97/QĐ-ĐCSMT;08/3/2023, Hoàn mẫu m = 0,8984 (g). Có chữ ký họ tên của Nguyễn Văn Ch, Phạm Viết B, Võ Như Th và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng.
- 01 (một) phong bì niêm phong màu trắng có ghi số 269/2023-PC09, Vụ: Nguyễn Ngọc C – 1994; HKTT: Số 06 đồi Mai Anh, phường E, Đ, Lâm Đồng, QĐTC:97/QĐ-ĐCSMT;08/3/2023, Bao gói. Có chữ ký họ tên của Nguyễn Văn Ch, Phạm Viết B, Võ Như Th và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/6/2023 giữa Cơn quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ)
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc C phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKSND Tp. Đ; - Công an Tp. Đ; - Nhà tạm giữ Công an tp. Đ; - Chi cục THADS Tp. Đ; - Bị cáo; - Lưu: bộ phận lưu trữ; hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Vân Anh |