vanban.org

Bản án 143/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị S được ly hôn anh Nguyễn Đình T.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Bảo Ngọc, sinh ngày 21/11/2019 cho chị Nguyễn Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Đình T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị S và anh T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị S được ly hôn anh Nguyễn Đình T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 24/8/2023
V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phương Phú

Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tráng là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trà - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 115/2023/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023 về tranh chấp về ly hôn, nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2023/QĐST- HNGĐ ngày 11/8/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1997; địa chỉ: Xóm Tr, xã X, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.Có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1993; địa chỉ: Xóm Tr, xã X, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện; bản tự khai; biên bản hoà giải và tại phiên toà nguyên đơn trình bày như sau:

Về hôn nhân:Chị và anh Nguyễn Đình T kết hôn với nhau vào ngày 12/8/2019 do hai bên tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Tường, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc, đến cuối năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không tôn trọng, tin tưởng nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 02/2023 đến nay, tỉnh cảm vợ chồng là không còn nữa, chị Nguyễn Thị S đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đình T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Bảo N, sinh ngày 21/11/2019. Chị Nguyễn Thị S yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh Nguyễn Đình T cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài chung và nợ: Chị Nguyễn Thị S không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến bị đơn anh Nguyễn Đình T:

Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị S kết hôn với nhau vào ngày 12/8/2019 do hai bên tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Tường, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gan đầu, đến đầu tháng 11/2022 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng sống ly thân từ 6/2023 đến nay. Tỉnh cảm vợ chồng là đang còn, anh Nguyễn Đình T không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Bảo N, sinh ngày 21/11/2019 hiện đang ở với chị tại Xóm 7, xã Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Trường hợp ly hôn thì anh Nguyễn Đình T yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu chị Sen cấp dưỡng nuôi con .

Về chia tài chung và nợ: Anh Nguyễn Đình T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn; bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị S được ly hôn anh Nguyễn Đình T.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Bảo N, sinh ngày 21/11/2019 cho chị Nguyễn Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Đình T.

Về chia tài sản và nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Đình T là hợp pháp, được xác lập trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã tại UBND xã Xuân Tường, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An vào ngày 12/8/2019 . Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến tháng 11/2022 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp và vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay. Chị Nguyễn Thị S xin ly hôn thì anh Nguyễn Đình T không đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Đình T chỉ tồn tại về mặt hình thức, thực chất tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị S, xử cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đình T là đúng với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Bảo N, sinh ngày 21/11/2019. Chị Nguyễn Thị S yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh Nguyễn Văn Thảo cấp dưỡng nuôi con .Anh Nguyễn Đình T yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu chị Sen cấp dưỡng nuôi con .

Xét thấy chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Đình T đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi con, đây là yêu cầu chính đáng của cả hai người. Xét thấy cháu Nguyễn Thị Bảo N, sinh ngày 21/11/2019 và hiện tại đang ở với chị Nguyễn Thị S, do đó do đó giao con chung cho chị Nguyễn Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là đảm bảo được quyền lợi mọi mặt của con, đúng với quy định tại các Điều 81,82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản và nợ: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị S được ly hôn anh Nguyễn Đình T.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Bảo Ngọc, sinh ngày 21/11/2019 cho chị Nguyễn Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Đình T.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng(Ba trăm ngàn) theo biên lai số 0009544 ngày 20/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ