- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ánh Th và anh Dương Minh K.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 143/2023/HNGĐ-ST Ngày 06-6-2023 V/v ly hôn giữa chị Th và anh K |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thúy Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Lịch;
Bà Bùi Thị Hảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuyến - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Nam Định.
Ngày 06 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 81/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2023/QĐXXST
- HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ánh Th, sinh năm 1996. Địa chỉ: Xóm 10, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định;
- Bị đơn: Anh Dương Minh K, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm 3, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
(chị Th, anh K đều xin vắng mặt có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 14-3-2023 và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ánh Th và anh Dương Minh K đăng ký kết hôn ngày 20-11-2021 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng chưa chung sống với nhau và chưa tổ chức lễ cưới thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị Th nhận thấy chị và anh K tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, chị thấy không có tình cảm với anh K. Mặc dù chị Th cũng đã suy nghĩ nhiều về mối quan hệ vợ chồng với anh K nhưng anh K cũng không thường xuyên quan tâm liên lạc với chị, anh K còn có tính áp đặt mọi việc. Do đó, hai bên gia đình không tiến hành tổ chức lễ cưới như dự định. Nay chị Th nhận thấy tình cảm của chị đối với anh K không có nên chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh K.
Về con chung: Chị Th và anh K chưa chung sống với nhau nên chưa có con chung, chị Thơ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Chị Th xác nhận vợ chồng chưa chung sống với nhau nên không có tài sản và nghĩa vụ tài sản, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 18-5-2023, bị đơn anh Dương Minh K có lời khai thống nhất với lời khai của chị Th về quá trình vợ chồng đăng ký kết hôn và sau đó chưa tổ chức lễ cưới thì đã xảy ra mâu thuẫn. Theo anh K, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nên không tổ chức lễ cưới nữa. Nay chị Th làm đơn xin ly hôn, anh K nhận thấy anh và chị Th không thể tiếp tục đến được với nhau nên anh nhất trí ly hôn.
Về con chung: Anh K có lời khai thống nhất với chị Th vợ chồng chưa có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Anh K có lời khai thống nhất với chị Th, anh xác nhận vợ chồng không có tài sản và nghĩa vụ tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Do công việc không thể sắp xếp để nghỉ được nên chị Th, anh K đều có ý kiến xin vắng mặt và giữ nguyên ý kiến trình bày ở trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh Th và bị đơn anh Dương Minh K đều có ý kiến xin vắng mặt tại phiên tòa có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Th, anh K là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Ánh Th và anh Dương Minh K là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được Uỷ ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 20-11-2021. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng chưa tổ chức lễ cưới, chưa chung sống với nhau thì đã xảy ra mâu thuẫn, không hòa hợp nên đến nay hai gia đình không tổ chức lễ cưới nữa. Nay chị Th xét thấy không có tình cảm với anh K nên xin ly hôn, anh K nhất trí.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Th đối với anh K, qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh K xuất phát từ việc hai người chưa thực sự tìm hiểu nhau kỹ trước khi kết hôn nên sau khi đăng ký kết hôn mới nhận thấy tính tình, quan điểm không hợp nhau. Từ đó, hai bên quyết định không tiếp tục tổ chức lễ cưới và chị Th cũng chưa về chung sống cùng anh K. Mặt khác, anh K cũng xác định hai bên không thể đến được với nhau được nữa nên anh nhất trí ly hôn. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Th, cho chị Th được ly hôn anh K là phù hợp quy định khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung, tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Chị Th, anh K đều xác nhận vợ chồng chưa chung sống với nhau nên chưa có con chung, tài sản và nghĩa vụ tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Ánh Th phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ánh Th và anh Dương Minh K.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Chị Nguyễn Thị Ánh Th phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0006613 ngày 22-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Chị Th đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh; - VKSND huyện + tỉnh; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã H; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thúy Nga |