vanban.org

Bản án 143/2023/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 09/11/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/11/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Đức H. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2023/DS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đức H. Buộc ông Nguyễn Văn Q có nghĩa vụ bồi thường cho ông Lê Đức H số tiền 10.111.000đồng (Mười triệu một trăm mười một nghìn đồng). Những quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khoẻ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Đức H. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2023/DS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2023/DS-PT
Ngày: 09-11-2023
V/v Bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Minh Dũng.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Thanh Tuấn

Ông Nguyễn Văn Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hậu là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2023/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 169/2023/QĐXXPT-DS ngày 09 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Đức H, sinh năm 1964; Địa chỉ: Xóm B, thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1974; Địa chỉ: Xóm C, thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1965; Địa chỉ: Xóm B, thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định.

- Người kháng cáo: Ông Lê Đức H là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Lê Đức H trình bày:

Nhà ông với nhà ông Nguyễn Văn Q ở gần nhau. Khoảng 14 giờ ngày 24/02/2009, ông đi làm ruộng về đến trước ngõ nhà thì thấy ông Q đi bộ về nhà. Thấy ông, ông Q liền nhảy lên cộ trâu dựng sát lề đường bê tông rồi rút 1 cây gỗ dài khoảng 1,2 mét, to bằng bắp tay, nói với ông: “Mày nhìn tao, mày nhìn tao” rồi nhảy xuống đứng đối diện ông, đánh loạn xạ vào người ông, ông bị trúng 01 cái vào mặt trong gối phải làm ông ngã ngửa về sau. Khi được mọi người đỡ dậy thì ông phát hiện đầu bị sưng, ngực trái bị bầm. Ông không có gây thương tích cho ông Q. Đến ngày 25/02/2009, vợ ông là bà Huỳnh Thị N đưa ông đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ điều trị trong thời gian 10 ngày, từ ngày 25/02/2009 đến ngày 07/3/2009.

Nay ông yêu cầu ông Q bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm gồm các khoản: Tiền thuốc có hóa đơn chứng từ 332.000 đồng; Giá trị ngày công lao động bị mất 30 ngày (10 ngày nằm điều trị ở Bệnh viện và 20 ngày điều trị tại nhà), mỗi ngày theo mức thu nhập do Công ty CP N1 (nơi ông làm việc) cung cấp; Bồi thường khoản bù đắp tổn thất tinh thần do Tòa án xem xét quyết định; Giá trị ngày công lao động bị mất của người chăm sóc trong thời gian nằm viện 10 ngày, mỗi ngày 200.000 đồng.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Q trình bày:

Ông thống nhất về thời gian, địa điểm xảy ra việc xô xát như ông H trình bày. Ngày đó ông có kéo rơm cho ông T ở cùng thôn. Sau đó, ông vào nhà ông T uống rượu cùng với một số người nữa nhưng ông không nhớ tên, ông hơi say nên điều khiển cộ trâu về nhà. Khi đứng trước cổng nhà thì thấy ông Lê Đức H đi bộ trên đường bê tông ngang qua ngõ nhà ông, cách khoảng 03m thì ông rút một đoạn cây gỗ dài khoảng 1,2m, đường kính 05cm đang cắm trên cộ trâu rồi nhảy xuống đứng đối diện ông H. Ông nói “Sao mày nhìn tao” rồi ông cầm cây đánh từ trên xuống nhưng ông H đỡ được và giành lấy cây. Ông giật cây rơi xuống đất rồi ôm ông H vật ngã xuống đường bê tông. Sau khi được mọi người can ngăn thì ông có thấy ông H bị thương ở đầu gối bên phải, có chảy máu. Ông nhận thấy hành vi của ông đã gây thương tích cho ông H là vi phạm pháp luật. Ông chỉ đồng ý bồi thường Tiền thuốc có hóa đơn chứng từ điều trị 332.000 đồng. Việc ông H yêu cầu bồi thường giá trị 30 ngày công lao động bị mất là nhiều, đối với việc ông H yêu cầu bù đắp tổn thất tinh thần và giá trị ngày công lao động bị mất của người chăm sóc, ông không đồng ý bồi thường.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị N trình bày: Bà thống nhất như lời trình bày của chồng là ông Lê Đức H. Ngoài ra bà không có yêu cầu thêm.

Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn quyết định:

1. Buộc ông Nguyễn Văn Q có nghĩa vụ bồi thường cho ông Lê Đức H số tiền 6.966.780 đồng (Sáu triệu chín trăm sáu mươi sáu ngàn bảy trăm tám mươi đồng) thiệt hại về sức khỏe do ông Q gây ra cho ông H vào ngày 24/02/2009.

2. Không chấp nhận ông Lê Đức H yêu cầu ông Nguyễn Văn Q bồi thường giá trị 20 ngày công lao động bị mất do điều trị tại nhà sau khi ra viện vì không phù hợp với thực tế.

3. Không chấp nhận việc ông Nguyễn Văn Q không đồng ý bồi thường cho ông Lê Đức H các khoản: Bù đắp tổn thất về tinh thần và giá trị ngày công bị mất của người chăm sóc ông H trong thời gian nằm điều trị ở bệnh viện vì không phù hợp với pháp luật.

Ngoài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo, về quyền và nghĩa vụ thi hành án của các bên đương sự.

Ngày 21/6/2023 nguyên đơn ông Lê Đức H kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, ông yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc ông Nguyễn Văn Q bồi thường cho ông 30 ngày nghỉ việc Công ty CP N1 để điều trị tại Bệnh viện Đ 10 ngày (đã được tòa sơ thẩm chấp nhận) và 20 ngày điều trị tại nhà chưa được tòa sơ thẩm chấp nhận, các phần khác của bản án ông đồng ý không kháng cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Đức H. Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của ông Lê Đức H, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định ông Nguyễn Văn Q là người trực tiếp gây thương tích cho ông Lê Đức H vào ngày 24/02/2009. Ông H yêu cầu ông Q phải bồi thường các khoản gồm: Chi phí điều tại bệnh viện; ngày công lao động của ông H 30 ngày (trong đó 10 ngày điều trị tại bệnh viện và 20 ngày điều trị tại nhà sau khi xuất viện); ngày công người nuôi tại bệnh viện 10 ngày và tổn thất tinh thần theo quy định pháp luật. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2023 tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận các khoản: Chi phí điều trị tại bệnh viện 332.000đồng; khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần 1.490.000đồng; thu nhập thực tế ông H bị mất 10 ngày do nằm điều trị ở Bệnh viện 3.144.780đồng; tiền công lao động bị mất của người chăm sóc 10 ngày tại bệnh viện 2.000.000 đồng. Tổng cộng ông Q phải bồi thường cho ông H 6.966.780đồng.

Sau khi xét xử sơ thẩm ông H kháng cáo yêu cầu ông Q bồi thường thêm tiền công lao động của ông H bị mất 20 ngày điều trị tại nhà chưa được tòa sơ thẩm chấp nhận.

Hội đồng xét xử xét thấy chiều ngày 24/02/2009 ông H bị ông Q gây thương tích, ngày 25/02/2009 ông H nhập viện điều trị tại Bệnh viện Đ đến ngày 07/3/2009 thì ra viện. Theo giấy ra viện ngày 07/3/2009 (BL 08) của Bệnh viện Đ có chỉ định sau khi ông H ra viện cần phải ăn uống nghỉ ngơi. Do đó, ông H sau khi xuất viện cần phải có thời gian nghỉ ngơi để hồi phục sức khỏe theo chỉ định bác sỹ tại giấy ra viện thì mới có thể lao động được. Tuy nhiên, giấy ra viện không ghi rõ thời gian nghỉ ngơi để hồi phục sức khỏe là bao lâu, nhưng giấy chứng nhận thương tích (BL 53) có xác định tình trạng thương tích lúc ra viện là “các vết xây xác đã khô, đỡ đau”. Do đó, hội đồng xét xử xét thấy thời gian hợp lý nghỉ ngơi để hồi phục khả năng lao động trong trường hợp này là 10 ngày. Nên HĐXX có đủ cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông H buộc ông Q phải có nghĩa vụ bồi thường thêm cho ông H số tiền thu nhập thực tế ông H bị mất 10 ngày do nằm điều trị tại nhà là 314.478đồng/ngày x 10 ngày = 3.144.780đồng.

Ông H cho rằng trước khi nhập viện ông H có viết đơn xin nghỉ phép 30 ngày (từ 25/02/2009 đến ngày 25/3/2009) với lý do để nhập viện điều trị (BL 50) và được Công ty T1 nơi ông H làm việc đồng ý xác nhận cho ông H nghỉ phép 30 ngày để nhập viện và bố trí người khác làm thay công việc ông H (BL 52) nên ông H yêu cầu ông Q bồi thường tiền công lao động của ông H bị mất 10 ngày điều trị tại bệnh viện và 20 ngày điều trị tại nhà theo đơn xin nghỉ phép là không có cơ sở để chấp nhận, vì giấy xin nghỉ phép của ông H trước khi nhập viện điều trị thương tích không phải là giấy của bệnh viện xác nhận ông cần phải nghỉ 30 ngày để hồi phục sức khỏe.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Đức H, sửa bản án sơ thẩm buộc ông Nguyễn Văn Q phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông Lê Đức H tổng cộng 10.111.000đồng (Trong đó gồm: 332.000đ về khoản chi phí điều trị; 6.289.000đồng về giá trị 10 ngày công lao động bị mất do nằm điều trị ở bệnh viện và 10 ngày công lao động bị mất do nằm điều trị tại nhà; 1.490.000đồng về khoản bù đắp tổn thất về tinh thần và 2.000.000đồng về giá trị 10 ngày công lao động bị mất của người chăm sóc)

Những quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì ông Q phải chịu 505.000 đồng.

[4.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Theo quy định khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì ông Lê Đức H không phải chịu.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Đức H, giữ nguyên bản án sơ thẩm là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 604, 605, 609 Bộ luật Dân sự năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2011).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Đức H. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2023/DS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đức H. Buộc ông Nguyễn Văn Q có nghĩa vụ bồi thường cho ông Lê Đức H số tiền 10.111.000đồng (Mười triệu một trăm mười một nghìn đồng).

3. Những quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn Q phải chịu 505.000 đồng

5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Đức H không phải chịu.

6. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

6.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

6.2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ