- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Tân và đồng bọn - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phạm Thị T, Trần Thị T, Đặng Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 143/2022/HS-ST Ngày 24/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Như Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Minh và bà Nguyễn Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 147/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Phạm Thị T, sinh ngày 14/10/1971; tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.
Trú quán: Bản Tự N, xã Đông S, huyện M, tỉnh S.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Thái: Giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Duyện và con bà Nguyễn Thị Đoan (Đều đã chết); bị cáo có chồng là Nguyễn Đức Thiệu; có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 21/10/2009 bị Công an huyện Mộc Châu quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, đã chấp hành xong.
Bị bắt tạm giam, giữ từ ngày 30/5/2022 đến nay, có mặt.
2. Trần Thị T, sinh ngày 26/10/1970; tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng yên.
Trú quán: Tiểu khu 6, thị trấn M, huyện M, tỉnh S.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu Thế và bà Vũ Thị Đào (Đều đã chết); bị cáo có chồng là Nguyễn Kế Hà ( Đã chết), bị cáo có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
Ngày 14/4/2003 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt tù chung thân về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 14/10/2003 bị Tòa Phúc Thẩm tại Hà Nội xử phạt 20 (Hai mươi năm tù) về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong hình phạt tù, được đặc xá ngày 31/8/2015 ( đã được xóa án tích).
Bị bắt tạm giam, giữ từ ngày 30/5/2022 đến nay, có mặt.
3. Đặng Văn T, sinh ngày 25/10/1986; tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
Trú quán: Bản Suối N, xã Huy T, huyện P, tỉnh S.
Hiện đang tạm trú tại: Tiểu khu 2, thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Giao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Đằm, con bà Triệu Thị Xuôi; bị cáo có vợ là Lý Thị Day; có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giam, giữ từ ngày 30/5/2022 đến nay, có mặt.
Người cóa quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Đào Thị H, sinh năm 1968.
Trú tại: Bản B, xã Đ, huyện M, tỉnh S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18h 10 phút ngày 30/5/2022, tổ công tác Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại tiểu khu 6, thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La kiểm tra phát hiện Trần Thị T đang thực hiện hành vi mua bán ô số lô, số đề với Phạm Thị T, T đang cầm 01 tờ giấy khổ A4 có ghi nhiều số tự nhiên ( số lô đề) và sử dụng 01 chiếc điện thoại di động đang hiển thị phần mềm Zalo để nhắn tin và và gửi ảnh đã chụp tờ giấy A4 với tài khoản “ T Thiêu 2”. Trần Thị T khai nhận các số tự nhiên ghi trên giấy và tin nhắn các số tự nhiên với tài khoản “T Thiêu 2” là các số lô, số đề mà T đã bán cho những người mua số lô, số đề với T, trong đó có Đặng Văn T nhắn tin qua Zalo mua 2.000.000đ tiền ô số đề và 3.450.000đ tiền mua số lô. Khi T đang tập hợp bảng lô, đề để gửi tin nhắn chuyển cho Phạm Thị Tâm nhằm mục đích hưởng lợi số tiền chênh lệch thì bị phát hiện bắt giữ.
Căn cứ vào hành vi vi phạm của Trần Thị T, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ của Trần Thị T 01 tờ giấy khổ A4 có ghi nhiều số tự nhiên, 01 chiếc bút bi, 01 chiếc điện thoại di động dẫn giải T đến trụ sở Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra làm rõ.
Mở rộng điều tra, ngày 30/5/2002 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu ra lệnh giữ và lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đới với Phạm Thị T và Đặng Văn T về hành vi Đánh bạc, quá trình bắt giữ có thu giữ của T 01 chieecvs điện hoại nhãn hiệu Sam Sung- G la xy.
Quá trình điều tra, Trần Thị T, Phạm Thị T, Đặng Văn T khai nhận.
T làm nghề buôn bán hàng tạp hóa tại tiểu khu 6, thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La có quen biết với T, khoảng đầu tháng 4 năm 2022 T gặp một người phụ nữ tự giới thiệu tên là Hạnh, nhà ở thành phố Hà Nội, hai bên cho nhau số điện thoại và kết bạn qua ứng dụng Zalo. Đến ngày 28/5/2022 Hạnh đặt vấn đề thuê T làm thư ký làm thư ký ghi ô số lô, số đề cho Hạnh. Hạnh và T thỏa thuận đối với ô số đề, số lô xiên T được hưởng 25% tổng số tiền bán được trong ngày, đối với số lô T bán cho khách 22.000đ/01 điểm và chuyển cho Hạnh 21.800đ/01 điểm, T được hưởng 200đ/01 điểm.
Ngày 28/5/2022, T gặp T đặt vấn đề thuê T làm thư ký bán ô số lô, ô số đề, T và T thỏa thuận, T sẽ bán ô số lô cho khách với giá 23.000đ/01 điểm lô, chuyển cho T 22.000đ/01 điểm lô, T được hưởng số tiền 1.000đ đối với mỗi một điểm lô đã bán. Đối với ô số đề, số lô xiên T được hưởng 20% tổng số tiền bán được.
Cách thức bán và chuyển ô số lô, ô số đề và thanh toán tiền như sau.
Khi khách mua ô số lô, ô số đề T sẽ viết các ô số lô, ô số đề với số điểm và số tiền tương ứng vào 01 tờ giấy A4, đến trước 18h30 hàng ngày T sẽ tổng hợp các ô số lô, ô số đề bán cho khách rồi chụp ảnh chuyển qua phần mềm Zalo cho T. Dựa vào kết quả mở thưởng cho khách, nếu có khách trúng thưởng, ngày hôm sau T sẽ trực tiếp đến nhà T đưa tiền để và tiền công của T và tiền trúng thưởng cho khách, đối với số lô, số đề tiếp nhận từ T, T sẽ sao chép và gửi qua Zalo cho Hạnh, Hạnh sẽ đến nhà T thu tiền và trả tiền công của T cùng tiền trúng thưởng của khách.
Hình thức đánh bạc được thực hiện như sau: Ô số lô, ô số đề là các ô số tự nhiên gồm 02 chữ số từ ô số 00; 01; 02 … đến 99. Người chơi bỏ ra một số tiền bất kỳ để mua một ô số lô, đề bất kỳ. Sau khi có kết quả mở thưởng của công ty xổ số kiến thiết Miền Bắc, nếu người mua ô số đề trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì sẽ được trả thưởng với mức 1 x 70 lần. Tức là người chơi sẽ được trả thưởng gấp 70 lần số tiền ban đầu đã bỏ ra mua ô số đó. Đối với ô số lô, người chơi phải bỏ ra số tiền để mua ô số lô bất kỳ 23.000 đồng/01 điểm. Người chơi có thể mua từ một điểm lô trở lên. Khi mở thưởng nếu ô số lô trùng với hai số cuối cùng của các giải xổ số từ giải đặc biệt đến giải 7 thì người chơi sẽ nhận được số tiền là 80.000 đồng/01 điểm lô. Nếu ô số lô xuất hiện nhiều lần trong các giải sổ xố thì người chơi sẽ nhận được số tiền nhân lên tương ứng với số lần xuất hiện của ô số lô đó. Đối với ô số lô xiên: Khi người chơi mua cùng một lúc bộ số từ 02 ô số lô, 03 ô số lô hoặc 04 ô số lô. Sau khi có kết quả mở thưởng của công ty xổ số kiến thiết Miền Bắc, nếu tất cả các ô số đã mua cùng xuất hiện trong hai số cuối của các giải thì người chơi trúng thưởng, nhận được số tiền gấp 10 lần số tiền đã mua trong trường hợp mua 02 bộ số, nhận được số tiền gấp 40 lần số tiền đã mua trong trường hợp mua 03 bộ số, nhận được số tiền gấp 100 lần số tiền đã mua trong trường hợp mua 04 bộ số.
Ngày 30/5/2022, T bán được các ô số lô, số đề với tổng số tiền 10.940.000 đồng.
Trong đó bán cho Đào Thị H mua các ô số lô: 33, 11, 55 với số tiền 690.000 đồng.
Bán cho Đặng Văn T 16 ô số đề và 02 ô số lô với số tiền 5.450.000 đồng;
Ngoài ra, T bán trực tiếp cho những người khách không quen biết 58 ô số đề; 130 điểm lô và 02 cặp lô xiên với số tiền là 4.800.000 đồng.
Đối với số tiền mua các ô số lô, số đề, Đào Thị H và Đặng Văn T chưa thanh toán Trần Thị T.
Đối với Đào Thị H chưa có tiền án, tiền sự, hành vi đánh bạc dưới hình thức mua các ô số lô với tổng số tiền 690.000 đồng, chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 21/7/2022 Công an huyện Mộc Châu đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đào Thị H.
Đối với số tiền 4.800.000 đồng Trần Thị T bán ô số lô, đề cho những người khách không quen biết, quá trình điều tra T khai nhận đã làm rơi số tiền trên tại khu vực chợ trung tâm huyện Mộc Châu, cơ quan CSĐT Công an huyện Mộc Châu chưa thu giữ được, nên Trần Thị T phải chịu trách nhiệm với số tiền này.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành xác minh đối với người phụ nữ tên Hạnh, quá trình điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ, số điện thoại. Kết quả xác minh tài khoản Zalo “HanhBt” không xác định được số điện thoại sử dụng, do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộc Châu không có căn cứ để xử lý vì vậy Phạm Thị T phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò chủ mưu, cầm đầu.
Ngày 07/6/2022 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu ra quyết định trưng cầu giám định phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La khôi phục tin nhắn đối với tài khoản Zalo của các bị cáo, nhung không thể thực hiện được việc khôi phục. Do đó không có căn cứ xác định việc thực hiện hành vi đánh bạc của các đối tượng mua ô số lô, ô số đề liên quan nên không đề cập đến biện pháp xử lý, do đó buộc Trần Thị T phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số lô, số đề trị giá thành tiền là 10.940.000đ đang chuyển cho Phạm Thị T.
Bản cáo trạng số 114/CT-VKS ngày 08/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố các bị cáo Trần Thị T, Phạm Thị T, Đặng Văn T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Thị T, Phạm Thị T, Đặng Văn T phạm tội “Đánh bạc” áp dụng căn cứ pháp luật để xử phạt các bị cáo như sau:
1. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58, khoản 2, 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Thị T từ 07 tháng đến 09 tháng tù.
Phạt bổ sung phạt tiền với bị cáo từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
2. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 2, 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị T từ 07 tháng đến 09 tháng tù.
Phạt bổ sung phạt tiền với bị cáo từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
3. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 2, 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn T từ 07 tháng đến 09 tháng tù.
Phạt bổ sung phạt tiền với bị cáo từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
7. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự về vật chứng của vụ án:
Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước với Trần Thị T số tiền 4.800.000 đồng.
Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước với Đặng Văn T số tiền 5.450.000 đồng.
Chấp nhận việc Đào Thị H đã tự giác giao nộp số tiền 690.000đ do H đánh bạc với T cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, để nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 690.000đ của H giao nộp ( số tiền này đã được chuyển theo ủy nhiệm chi ngày 08/8/2022 của Công an tỉnh Sơn La.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ đánh bạc dưới hình thức mua bán ô số lô, số đề xảy ra ngày 30/5/2022 tại thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La gồm có: 03 phong bì niêm phong đã bóc mở.
Tịch thu nộp ngân sánh Nhà nước 03 điện thoại di động nhãn nhiệu SAM SUNG – GALAXY thu giữ của các bị cáo T, T, T. Tại mép dán giáp lai của phong bì được dán giấy niêm phong số 081169.
Tịch thu nộp ngân sánh Nhà nước 01 điện thoại di động của Đào Thị H ngày 30/5/2022. Tại mép dán giáp lai của phong bì được dán giấy niêm phong số 043635.
Tịch thu tiêu hủy các sim trong các điện thoại bị thu giữ.
8. Về án phí:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án, các bị cáo có ý kiến như sau.
Các bị cáo nhất trí nội dung cáo trạng đã truy tố cũng như nội dung bản luận tội, các bị cáo không có tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi và trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo giữ nguyên lời khai như đã khai tại cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì. Các bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Xét lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp, người làm chứng, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Do hám lợi nên Phạm Thị T đã thuê Trần Thị T ghi các số lô, số đề nộp lại cho T. Ngày 30/5/2022 Trần Thị T đã bán ô số lô, ô số đề cho Đặng Văn T với tổng số tiền là 5.450.000đ; bán ô số lô, ô số đề cho Đào Thị H với số tiền 640.000đ, trực tiếp đánh bạc bằng hình thức mua ô số lô, số đề với số tiền 4.850.000đ mục đích nhằm thu lời bất chính, khi T đang chuyển các bảng lô, đề cho Phạm Thị T thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Về tính chất, mức độ nghiệm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm nếp sống văn minh của xã hội. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn hưởng lợi bất chính nên vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung, việc cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội là cần thiết có như vậy mới có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung.
Phân hóa vai trò phạm tội của các bị cáo trong vụ án thấy rằng bị cáo Phạm Thị T là người khởi sướng, rủ rê bị cáo T bán ô số lô, ô số đề để chuyển giao cho bị cáo T mục đích hưởng lợi, nên bị cáo giữ vai trò chính chủ mưu, cầm đầu.
Bị cáo T, bị cáo T là đồng phạm.
Do các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm, nên sẽ được xem xét cá thể hóa hình phạt với từng bị cáo theo Điều 85 BLHS
Xét về nhân thân các bị cáo thấy rằng.
Đối với bị cáo T, ngày 21/10/2009 bị Công an huyện Mộc Châu quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, đã chấp hành xong. Nhưng không sửa chữa lại vi phạm.
Đối với bị cáo T, ngày 14/4/2003 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt tù chung thân về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 14/10/2003 bị Tòa Phúc Thẩm tại Hà Nội xử phạt 20 (Hai mươi năm tù) về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong hình phạt tù, được đặc xá ngày 31/8/2015, mặc dù bị cáo phạm tội là một tội phạm khác, nhưng bị cáo phải đủ hiểu biết việc đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật.
Do đó cách ly bị cáo T, bị cáo T ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là phù hợp.
Đối với bị cáo T trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo được gia đình và chính quyền địa phương có đơn xin bảo lãnh cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương, do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự giao bị cáo về cho gia đình và chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục, bị cáo cũng có thể trở thành người có ích cho gia đình và xã hội về sau.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung - phạt tiền: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng các bị cáo phạm tội có tính chất vụ lợi, do đó cần xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Đối với hành vi đánh bạc của Đào Thị H, quá trình điều tra xác định Đào Thị H chưa có tiền án, tiền sự. Số tiền của Đào Thị H dùng để đánh bạc là 690.000đ dưới 5.000.000 đồng do đó không cấu thành tội phạm đánh bạc. Ngày 21/7/2022, Công an huyện Mộc Châu đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đào Thị H bằng hình thức phạt tiền. Là đúng pháp luật cần chấp nhận.
Đối với những người đã mua ô số lô, ô số đề với Trần Thị T như T khai nhận. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không đề cập đến xử lý.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với số tiền 5.450.000đ Đặng Văn T đã mua các số lô, số đề với bị cáo T. Trong số tiền này bị cáo Đặng Văn T đánh nợ chưa trả tiền cho T nên không thu giữ được, do đó cần phải truy thu với Đặng Văn T số tiền 5.450.000đ (Năm triệu năm trăm năm mươi nghìn) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền 690.000.000đ (Sáu trăm, chín mươi nghìn đồng) Đào Thị H đánh bạc với Trần Thị T, cũng đánh nợ chưa trả tiền cho T, qua trình điều tra Đào Thị H đã tự giác giao nộp cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, xác định là tiền phạm tội cần phải tịch thu nộp ngân sách Nhà nước (số tiền này đã được chuyển theo ủy nhiệm chi ngày 08/8/2022 của Công an tỉnh Sơn La, nên không phải truy thu với Đào Thị H nữa.
Đối với số tiền 4.800.000đ (Bốn triệu, tám trăm nghìn đồng) là tiền các đối tượng đã mua số lô, số đề với T, quá trình bắt giữ không thu giữ được số tiền này do T khai làm rơi mất, nên cần truy thu số tiền 4.800.000đ với Trần Thị T để nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 03 chiếc điện thoại di động thu giữ của Trần Thị T, Phạm Thị Tâm, Đặng Văn T đã được niêm phong (do đang niêm phong nên không thể hiện số máy, màu sắc cửa từng chiếc điện thoại) là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sánh Nhà nước. Tại mép dán giáp lai của phong bì được dán giấy niêm phong số 081169.
Đối với 01 điện thoại di động của Đào Thị H thu giữ ngày 30/5/2022, tuy Đào Thị H không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng xác định chiếc điện thoại này Đào Thị H đã dùng làm công cụ phạm tội, cần phải tịch thu nộp ngân scahs Nhà nước (do đang niêm phong nên không thể hiện số máy, màu sắc cửa từng chiếc điện thoại) nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước. Tại mép dán giáp lai của phong bì được dán giấy niêm phong số 043635.
Đối với 01 phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ đánh bạc dưới hình thức mua bán ô số lô, số đề xảy ra ngày 30/5/2022 tại thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La gồm có: 03 phong bì niêm phong đã bóc mở, là vật không có giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với các sim trong các điện thoại thu giữ tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Thị T, Trần Thị T, Đặng Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
1. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58, khoản 2, 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Thị T 07 (Bảy) tháng tù.
Phạt bổ sung phạt tiền với bị cáo 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 30/5/2022.
2. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 2, 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thuỷ 07 (bảy) tháng tù.
Phạt bổ sung phạt tiền với bị cáo 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng)
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 30/5/2022.
3. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2, 3 Điều 35; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày 24/8/2022.
Phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
Giao bị cáo Đặng Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Huy Tường, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
4. Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên trả tự do cho bị cáo Đặng Văn T ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
5. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự về vật chứng của vụ án:
Truy thu nộp ngân sách Nha nước của bị cáo Trần Thị T số tiền là 4.800.000đ (Bốn triệu, tám trăm nghìn đồng).
Truy thu nộp ngân sách Nha nước của bị cáo Đặng Văn T số tiền là 5.450.000đ (Năm triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước của Đào Thị H số tiền 690.000.000đ (Sáu trăm, chín mươi nghìn đồng). Số tiền này đã được chuyển theo ủy nhiệm chi ngày 08/8/2022 của Công an tỉnh Sơn La.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước 03 chiếc điện thoại di động trong đó thu giữ của Trần Thị T ( 01 chiếc), Phạm Thị Tâm (01 chiếc), Đặng Văn T ( 01 chiếc) đã được niêm phong, do đang niêm phong nên không thể hiện số máy, màu sắc cửa từng chiếc điện thoại). Tại mép dán giáp lai của phong bì được dán giấy niêm phong số 081169.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động của Đào Thị H thu giữ ngày 30/5/2022 (do đang niêm phong nên không thể hiện số máy, màu sắc cửa chiếc điện thoại). Tại mép dán giáp lai của phong bì được dán giấy niêm phong số 043635.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ đánh bạc dưới hình thức mua bán ô số lô, số đề xảy ra ngày 30/5/2022 tại thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La gồm có: 03 phong bì niêm phong đã bóc mở, là vật không có giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.
Tịch thu tiêu hủy các sim trong các điện thoại bị thu giữ.
6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Phạm Thị T, Trần Thị T, Đặng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Sơn La; - Viện KSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - THA HS; - Trại giam. - Sở tư pháp tỉnh Sơn La (khi án có hiệu lực); - UBND xã Huy Tường, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; - Các bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Đỗ Như Khánh |