vanban.org

Bản án 143/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Nam Tuyên án 24/06/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc T, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 12 (Mười hai) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính t ngày bị b t đi thi hành án; tr đi thời … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc T, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2022/HS-PT
Ngày: 24 - 6 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Liêm

Các Thẩm phán: Ông Võ Minh Diệp

Bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Quân- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 100/2022/HS-PT ngày 18 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2022/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Ngọc T; sinh năm 1982 tại huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà; nơi cư trú: Thôn Trung Toàn, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Nguyễn Phận, sinh năm 1958 và bà Lê Thị Tửu, sinh năm 1964; có vợ là Nguyễn Thị Thuý Phượng, sinh năm 1985 (đã ly hôn) và có 02 con (con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 16/11/2018, bị Ủy ban nhân dân thị trấn N xử phạt hành chính số tiền 750.000đ về hành vi “Đánh nhau”, chấp hành xong việc nộp phạt vào ngày 11/12/2018.

Bị cáo bị b t tạm giam tại t ngày 13/8/2021 đ n ngày 15/9/2021 được thay th bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau: Tối ngày 09/7/2021, trong lúc ngồi nhậu, Nguyễn Duy T kể cho Nguyễn Văn Th và Nguyễn Thành T cùng trú thôn Trung Toàn nghe về chuyện trước đó Nguyễn Duy T bị Nguyễn Ngọc Th1 đánh. Nhậu xong, cả ba đ n nhà Th1 để hỏi chuyện nhưng không có Th1 ở nhà. Tại đây, Th có đập hỏng cái gạt tàn thuốc trong nhà Th1 rồi bỏ đi.

Cùng thời điểm trên, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Ngọc Th1 (T là anh ruột của Th1) và một số người bạn đang ngồi uống nước tại quán nước vỉa hè khu vực ngã ba của thôn Trung Toàn (cách nhà Th1 khoảng 700 mét) thì nghe người nhà điện thoại báo có nhóm của Th đ n tìm Th1 và đập phá đồ đạc trong nhà. T và Th1 chạy về nhà thì nhóm của Th đã ra về nên cả hai quay lại quán nước ngồi. Một lúc sau, Th1 thấy Nguyễn Thành T một mình đi bộ về phía mình đang ngồi nên Th1 lại gặp, hỏi lý do vì sao dẫn người đ n nhà mình quậy phá thì giữa Th1 và T xảy ra xô xát. Cả hai được mọi người can ngăn rồi T đi về nhà mình. Th1, T đi bộ về nhà thì gặp Th cầm một con dao tự ch một mình đi tới. T, Th1 với Th xảy ra xô xát, đánh nhau nhưng không gây thương tích gì rồi tất cả đi về nhà.

Sáng ngày 10/7/2021, T điện thoại rồi sau đó một mình đi lên nhà Th để hỏi lý do vì sao Th tìm đánh em mình thì Th nói rằng do “Th1 đánh T, là anh em k t nghĩa với Th nên Th tìm đánh lại”. Giữa T và Th có cãi vả, thách đố nhau rồi sau đó T đi về lại nhà mình. Đ n khoảng 11 giờ cùng ngày, trong lúc T đang ngồi nhậu trước nhà mình thì nghe được thông tin Th thách đố mình. Do đã uống rượu nên Nguyễn Ngọc T cầm một con dao tự ch bằng kim loại, dài 60cm, rộng 3,5cm đi đ n nhà Nguyễn Văn Th. Khi T đ n nhà thì Th đang ngồi nhậu trước hiên cùng với Nguyễn Duy T và Bùi T1. Thấy T cầm dao đ n trước cổng, Th bỏ chạy vào trong nhà thì T cầm dao đuổi theo. Th chạy lại phía sau nhà thì T ti p tục đuổi theo. Th chạy được một đoạn khoảng 10 mét thì bị vấp ngã ngửa xuống đất. T xông đ n cách Th khoảng 50cm, cầm dao bằng tay phải, chém một cái t trên xuống dưới, t phải qua trái, Th đưa tay trái lên đỡ thì bị chém trúng vào tay. Chém xong, T đi về lại nhà của mình. Th được đưa đ n Bệnh viện đa khoa Trung ương Quảng Nam rồi bệnh viện đa khoa Đà Nẵng cấp cứu, điều trị, đ n ngày 15/7/2021 thì xuất viện.

Tại Bản K t luận giám định thương tích số: 287/GĐTT.21 ngày 29/7/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Nam xác định tỷ lệ thương tích của Nguyễn Văn Th là 12%. Cụ Th:

- Mặt ngoài đoạn 1/3 trên và giữa cẳng tay trái có v t rách lóc da, cơ lành sẹo gỗ, xấu dài 6 cm, chỗ rộng nhất 1 cm. V t thương do vật s c cạnh gây nên. Hướng ch ch t sau ra trước, t dưới lên trên, t trái sang phải. Vận động sấp ngửa cẳng tay bình thường.

- Bàn tay trái, t mặt mu đốt 1 ngón II vòng vào trong ra trước đ n mặt gan đốt 1 ngón II có v t rách da, cơ và v t mổ đã lành còn đóng vảy hình vòng cung dài 7 cm, rộng 0,1 cm. Mất đốt 2,3 ngón III bàn tay trái, mõm cụt đã lành còn đóng vảy, sờ n n tăng cảm giác kích thích tại mõm cụt. V t thương do vật s c cạnh gây nên, lực tác động mạnh. Hướng t dưới lên trên, t phải sang trái. Bệnh nhân còn đau vùng bàn tay trái. Vận động gấp ngón II bàn tay trái hạn ch , duỗi ngón II bàn tay trái được bình thường.

Với nội dung vụ án như trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2022/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam đã quy t định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 18 (Mười tám) tháng tù, tr đi thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là 01 (Một) tháng 02 (Hai) ngày (t ngày 13/8/2021 đ n ngày 15/9/2021), còn lại bị cáo phải chấp hành là 16 (Mười sáu) tháng 28 (Hai mươi tám) ngày tù. Thời hạn tù được tính t ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quy t định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Vào ngày 01/4/2022, bị cáo Nguyễn Ngọc T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo; tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm giải quy t vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật. Đồng thời, đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo mức án 18 tháng tù là có cơ sở, phù hợp, mức án thấp dưới khung hình phạt mà điều luật quy định. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp Đơn xin cứu xét với nội dung “hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ đã ly hôn, hiện đang là lao động chính nuôi 02 con nhỏ đang độ tuổi ăn học”; tuy nhiên, tình ti t này đã được Toà án cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Ngọc T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Xét đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Ngọc T khai nhận: Sáng ngày 10/7/2021, T cầm dao tự ch đ n nhà Th để hỏi lý do về việc vào tối ngày 09/7/2021, Th đ n tìm Th1 và đập phá đồ tại nhà Th1 (em của T); tại đây, giữa T và Th có lời qua, ti ng lại cải vã với nhau, sau đó T về lại nhà mình. Đ n khoảng 11 giờ cùng ngày, T nghe thông tin Th thách đố mình, nên T cầm một con dao tự ch bằng kim loại dài 60cm, rộng 3,5cm đi đ n nhà Th, mục đích dọa để Th không đánh Th1. Tuy nhiên, khi đ n nơi thấy Th bỏ chạy nên T đuổi theo, quá trình chạy, Th bị vấp, ngã T dùng dao tự ch chém một cái trúng vào tay Th làm Th bị thương tích 12 %.

[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ, k t luận giám định thương tích và các tài liệu, chứng cứ được cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở k t luận: Hành vi dùng con dao tự ch là hung khí nguy hiểm đánh vào tay của bị hại, gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ 12 % nên bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2022/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam k t án bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng đầy đủ các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 18 tháng tù là có cơ sở, đúng pháp luật, mức án thấp dưới khung hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp Đơn xin cứu xét với nội dung “hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ ly hôn phải nuôi 02 con nhỏ có xác nhận của Công an xã T, huyện N”; hơn nữa, tromg vụ án này bị hại cũng có lỗi trước đó, thương tích của bị hại là 12%, nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Các phần quy t định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể t ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Ngọc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quy t số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc T, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 12 (Mười hai) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính t ngày bị b t đi thi hành án; tr đi thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam trước đó (t ngày 13/8/2021 đ n ngày 15/9/2021).

2. Bị cáo Nguyễn Ngọc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các phần quy t định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể t ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án (ngày 24/6/2022). Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- Các cơ quan ti n hành TT;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Người tham gia TT;

- Phòng PV06 CA Q.Nam;

- P.HSNV Sở tư pháp Q. Nam;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu Tòa hình sự.

Bùi Xuân Liêm Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- Các cơ quan ti n hành TT;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Người tham gia TT;

- Phòng PV06 CA Q.Nam;

- P.HSNV Sở tư pháp Q. Nam;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu Tòa hình sự.

Trần Thế Cẩm

Cỡ chữ