vanban.org

Bản án 143/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 28/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại về yêu cầu tăng hình phạt ối v i bị cáo.

Sửa ản án sơ thẩm số 21/2022/HSST ngày 21/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh về trách nhiệm dân sự. Tuyên ố ị cáo: Bùi Quang S phạm tội “Cố ý gây thương tích” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quang S phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổ…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại về yêu cầu tăng hình phạt ối v i bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2022/HS-PT
Ngày: 28/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Lam

Các Thẩm phán: Ông Bùi Quang Năng, ông Hồ Đức Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị M Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 105/2022/TLPT-HS ngày 09/8/2022 ối v i ị cáo Bùi Quang S do có kháng cáo của ị hại ối v i Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2022/HS-ST ngày 28/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

Bị cáo không có kháng cáo; không bị kháng nghị:

Bùi Quang S; tên gọi khác: Không; gi i tính: Nam; Sinh ngày 15 tháng 9 năm 1999, tại xã Kỳ Thương, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn Phúc Lập, xã Kỳ Thượng, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao ộng tự do; trình ộ văn hoá: L p 7/12; con ông: Bùi Văn L2, sinh năm: 1977; con bà: Lê Thị Hiền (Đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Bùi Quang S ang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ, Tạm giam” từ ngày 15/01/2022 cho ến nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh.

(Bị cáo có mặt tại phiên toà)

Người bào chữa cho bị cáo Bùi Quang S: Bà Nguyễn Thị N– Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nư c tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt)

Bị hại có kháng cáo:

Anh Nguyễn Văn S1 - sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn Bắc Tiến, xã Kỳ Thượng, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo:

1. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn Bắc Tiến, xã Kỳ Thượng, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt

2. Anh Bùi Văn L2, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Thôn Phúc Lập, xã Kỳ Thượng, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt

Ông Lê vừa là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vừa là người ại diện hợp pháp cho chị Bùi Thị Linh, vắng mặt

3. Anh Lê Văn S3, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Thôn Phúc Lập, xã Kỳ Thượng, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh,vắng mặt.

Những người khác không liên quan ến kháng cáo nên Tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án ược tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 14/01/2022, Bùi Quang S biết Nguyễn Văn S1 ang chơi ở nhà anh Nguyễn Văn Toản (sinh năm 1985, trú tại thôn Phúc Lập, xã Kỳ Thượng, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh ). Do sáng cùng ngày Bùi Quang S có gặp Nguyễn Văn S1, S hỏi S1 nhưng S1 không trả lời và trư c ó khi S1 ến nhà anh Toản chơi thì S1 có nhờ S mua 50.000 ồng tiền trứng vịt lộn và 30.000 ồng tiền rượu nhưng ến nay S1 vẫn chưa trả nên Bùi Quang S nảy sinh ý ịnh sẽ i ến nhà anh Nguyễn Văn Toản gặp Nguyễn Văn S1 ể nói chuyện. Sau khi uống rượu và ăn cơm xong, biết Nguyễn Văn S1 ang chơi cùng một số người bạn của S1 nên Bùi Quang S vào gian bếp của nhà mình lấy 01 (một) con dao loại dao thái bản rộng (phần lưỡi dao dài 18cm, vị trí rộng nhất 10cm, phần cán dài 11 cm) giấu vào thắt lưng quần rồi một mình i bộ ến nhà anh Toản. Khi ến sân nhà anh Toản, S thấy Nguyễn Quỳnh Mai (sinh năm 2006, là con gái anh Toản) ang ở trong nhà và Nguyễn Thị Thảo (sinh năm 2006, trú tại thôn Phúc Lập, xã Kỳ Thượng) ang ứng ở khu vực gần bàn uống nư c ở sân, S nhờ Nguyễn Thị Thảo vào nhà gọi Nguyễn Văn S1 ra ể nói chuyện thì Thảo và Mai vào nhà nói v i Nguyễn Văn S1. Một lúc sau, Nguyễn Văn S1 từ trong nhà anh Toản i ra chỗ sân nhà nơi Bùi Quang S ang ứng và hỏi “chi ó bạn”, S nói v i S1 “răng mày nợ tiền tao không trả, gặp tao hỏi mày không trả lời, mày vào ây chơi cũng không nói v i tao tiếng”. Nguyễn Văn S1 liền rủ Bùi Quang S vào nhà chơi, ồng thời kéo tay S vào nhà nhưng S không ồng ý nên Nguyễn Văn S1 bảo S i ra phía ngõ nói chuyện. Tại ây giữa Nguyễn Văn S1 và Bùi Quang S có lời qua tiếng lại. Khi Nguyễn Văn S1 ang ặt tay phải lên vai trái của Bùi Quang S thì S dùng tay phải rút con dao ở thắt lưng ra chém theo chiều hư ng từ phải S trái, từ trên xuống dư i trúng vào mặt ngoài 1/3 trên cánh tay trái của S1. Nguyễn Văn S1 kêu lên rồi dùng tay giữ tay của S ang cầm dao, lùi lại và bị ngã ngữa, S è lên người S1 rồi dùng dao chém theo hư ng từ trên xuống dư i, từ trái S phải trúng vào má phải của S1. Tiếp ó Bùi Quang S dùng dao chém theo hư ng từ trái S phải, từ trên xuống dư i trúng vào vai của Nguyễn Văn S1. Quá trình hai người giằng co con dao có gây một số thương tích ở bụng, mu bàn tay, gan bàn tay của S1. Khi Nguyễn Văn S1 và Bùi Quang S giằng co con dao thì bị Lê Văn S3 (trú tại thôn Tiến Quang, xã Kỳ Thượng) ạp vào lưng của S khiến S ngã xuống ất. Lúc này Nguyễn Văn M (Sinh năm 1996, là anh trai của S1) và một số người lao vào ánh S, còn Nguyễn Thị Mai ưa Nguyễn Văn S1 vào nhà anh Toản cùng ông Bùi Văn L(Sinh năm 1977, là bố của S) cầm máu cho S1. Nguyễn Văn S1 sau ó ược mọi người ưa ến Trạm y tế xã Kỳ Thượng ể xử lý vết thương và i cấp cứu, iều trị tại Bệnh viện a khoa tỉnh Hà Tĩnh. Trong quá trình ưa Nguyễn Văn S1 i cấp cứu, do tinh thần bị kích ộng nên anh Nguyễn Văn M có hành vi dùng tay, chân ấm, á vào một số vị trí trên cơ thể ông Bùi Văn Lnhưng không ể lại thương tích. Đến 07 giờ ngày 15/01/2022, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Bùi Quang S ã ến Công an xã Kỳ Thượng ầu thú và tự nguyện khai báo về hành vi của mình.

Tại kết luận giám ịnh pháp y về thương tích số 09/TgT, ngày 19/01/2022, của Trung tâm pháp y và giám ịnh y khoa tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Vùng trán bên phải cách uôi cung mày 02cm vết thương hình chữ J, 04cmx0,5cm, tỷ Ltổn thương cơ thể là 06%; Vùng mặt bên phải cách uôi mắt ra 03cm vết thương 01cmx0,5cm, tỷ Ltổn thương cơ thể là 1,5%; Vùng má bên phải vết thương mà phải kích thư c 12cmx0,5cm, tỷ Ltổn thương cơ thể là 09%; Vùng vai bên phải có 02 vết thương, vết trong kích thư c 02cmx0,3cm tỷ Ltổn thương cơ thể là 01%, vết ngoài kích thư c 03cmx0,3cm, tỷ Ltổn thương cơ thể là 01%; Vùng vai trái vết thương hình chữ C kích thư c 12cmx0,5cm, tỷ Ltổn thương cơ thể là 03%; Mặt ngoài 1/3 cánh tay trái vết thương kích thư c 07cmx0,3cm, tỷ Ltổn thương cơ thể là 02%; Vùng bụng cách rốn 02cm bên trái vết thương kích thư c 06cmx0,3cm, tỷ Ltổn thương cơ thể là 02%; Mu bàn tay phải vết thương rách da kích thư c 06cmx0,2cm, tỷ Ltổn thương cơ thể là 01%; Gan bàn tay trái vết thương kích thư c 03cmx0,1cm, tỷ Ltổn thương cơ thể là 01%; Tổng tỷ Ltổn thương cơ thể do thương tích gây ra ối v i Nguyễn Văn S1 tại thời iểm giám ịnh là 25% ( hai mươi lăm phần trăm).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2022/HS-ST ngày 28/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh ã căn cứ:

Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; iểm a, iểm c khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Điểm khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội.

Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự

Điểm khoản 2 Điều 134; iểm , iểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên ố ị cáo: Bùi Quang S phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Xử phạt Bùi Quang S 36 ( Ba sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/01/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc ị cáo Bùi Quang S phải ồi thường cho anh Nguyễn Văn S1 số tiền 56.223.670 ồng, nhưng ược khấu trừ số tiền 14.800.000 ( Mười ốn triệu tám trăm ngàn ồng) mà trong quá trình iều tra ị cáo ã ồi thường cho anh S1. Nay uộc ị cáo Bùi Quang S phải ồi thường số tiền còn lại 41.423.670 ồng.

Ngoài ra ản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt ổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy ịnh của pháp luật.

Trong hạn luật ịnh, ngày 08/7/2022 bị hại anh Nguyễn Văn S1 kháng cáo ề nghị tăng hình phạt và tăng tiền ồi thường.

Tại phiên tòa phúc thẩm ị hại vẫn giữ nguyên kháng cáo tăng hình phạt ối v i ị cáo và yêu cầu ị cáo tăng tiền ồi thường thêm 12.000.000 .

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án ề nghị Hội ồng xét xử căn cứ iểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS giuwxx nguyên hình phạt, chấp nhận thỏa thuận giữa ị cáo và ị hại về việc ị cáo ồi thường thêm 12.000.000 tiền là sẹo vết thương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án ã ược tranh tụng tại phiên tòa, Hội ồng xét xử nhận ịnh như sau:

Đơn kháng cáo của bị hại làm trong hạn luật ịnh nên ược chấp nhận xem xét.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp v i các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp v i thời gian, ịa iểm phạm tội, vật chứng thu giữ, phù hợp v i lời khai của ị hại. HĐXX có ủ cơ sở khẳng ịnh:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 14/01/2022, tại thôn Phúc Lập, xã Kỳ Thượng, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, mặc dù không có mâu thuẫn gì, chỉ vì những nguyên c nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày mà Bùi Quang S (sinh năm 1999, trú tại thôn Phúc Lập, xã Kỳ Thượng, huyện Kỳ Anh, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh) ã có hành vi sử dụng một con dao ( ằng kim loại) chém gây thương tích cho anh Nguyễn Văn S1 v i tỷ Ltổn thương cơ thể tại thời iểm giám ịnh là 25% (hai mươi lăm phần trăm). Sau khi nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, Bùi Quang S ã ến Công an xã Kỳ Thượng ầu thú và tự nguyện khai áo về hành vi của mình.

Do ó bản án hình sự sơ thẩm số 21/2022/HS-ST ngày 28/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh xét xử bị cáo Bùi Quang S về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy ịnh tại khoản Điểm khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là úng người, úng tội, có căn cứ, úng pháp luật.

Xét kháng cáo của ị hại

Về ề nghị tăng hình phạt ối v i ị cáo Bùi Quang S:

Bị hại Nguyễn Văn S1 cho rằng hình phạt ối v i ị cáo là nhẹ và chưa ủ nghiêm. Tuy nhiên, ị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ược hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy ịnh tại iểm , s khoản 1 Điều 51 và 1 tình tiết giảm nhẹ quy ịnh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Khung hình phạt tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là từ 2 năm ến 6 năm nên mức án 36 tháng tù mà cấp sơ thẩm ã tuyên ối v i ị cáo là có căn cứ, úng người, úng tội, úng pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ị hại về tăng hình phạt.

Về ề nghị tăng ồi thường thiệt hại:

Tại phiên tòa phúc thẩm người ị hại yêu cầu ị cáo tăng tiền ồi thường thêm 12.000.000 tiền là sẹo vết thương, bị cáo chấp nhận ồi thường như yêu cầu của ị hại. Hội ồng xét xử thấy rằng sự thỏa thuận ó là hoàn toàn tự nguyện nên có căn cứ uộc ị cáo Bùi Quang S phải ồi thường cho anh Nguyễn Văn S1 thêm 12.000.000 ngoài số tiền ồi thường mà Tòa sơ thẩm ã tuyên.

Từ những phân tích nêu trên, Hội ồng xét xử xét thấy không có căn cứ ể chấp nhận kháng cáo của người ị hại về tăng hình phạt ối v i ị cáo; chấp nhận kháng cáo của người ị hại về yêu cầu tăng ồi thường dân sự.

Về án phí: Gia ình ị cáo Bùi Quang S là hộ cận nghèo, ị cáo có ơn xin miễn án phí nên ược miễn án phí theo quy ịnh của pháp luật mặc dù tăng ồi thường ối v i ị cáo.

Các quyết ịnh khác của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ iểm b khoản 1 Điều 355; iểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

1. Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại về yêu cầu tăng hình phạt ối v i bị cáo. Chấp nhận kháng cáo tăng bồi thường dân sự.

Sửa ản án sơ thẩm số 21/2022/HSST ngày 21/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh về trách nhiệm dân sự.

Áp dụng Điểm khoản 2 Điều 134; iểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên ố ị cáo: Bùi Quang S phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Xử phạt Bùi Quang S 36 (ba sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 15/01/2022).

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc ị cáo Bùi Quang S phải ồi thường cho anh Nguyễn Văn S1 số tiền 68.223.670 , ã ồi thường ược 14.800.000 , còn phải ồi thường tiếp 53.423.670 . (năm a triệu ốn trăm hai a ngàn sáu trăm ốn ảy ồng)

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người bị hại có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo không tự nguyện thi hành thì phải trả lãi theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án là 05 năm tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, quá thời hạn nói trên người phải thi hành án và người được thi hành án mất quyền yêu cầu thi hành án.

. Về án phí:Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS năm 2015; iểm khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy ịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lphí Tòa án, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết ịnh khác của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ